Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 24/09/2007 22:59 (GMT+7)

Định hướng chiến lược phát triển của tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đến 2025 và tầm nhìn đến năm 2050

1. Các quan điểm cơ bản về Chiến lược phát triển

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đang tổ chức soạn thảo và xây dựng Chiến lược phát triển của mình, bao gồm chiến lược phát triển, chính sách chung và phương châm hành động nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của công ty mẹ và các công ty con. TKV xác định rõ ba giai đoạn/ phân kỳ của Chiến lược được phát triển như sau:

- Thời kỳ đầu: phát triển theo chiều rộng, nâng cao quy mô, thiết lập thị phần, tham gia các ngành nghề kinh doanh mới. Trong thời kỳ này, TKV lấy công nghiệp than làm nền tảng, coi khai thác than là nhiệm vụ trọng tâm và sử dụng các nguồn lực từ than để phát triển các ngành kinh doanh khác (như khoáng sản, điện, cơ khí, xi măng, vật liệu nổ công nghiệp…). Thiết lập thị phần cho các lĩnh vực dịch vụ, du lịch, thương mại, hạ tầng, kinh doanh vốn, kinh doanh tiền, xuất khẩu lao động, hợp tác quốc tế…

- Thời kỳ hai: Phát triển theo chiều sâu các ngành nghề đã được hình thành. Đặc biệt, hoàn thiện các công nghệ khai thác, tuyển, luyện và chế biến sâu quặng để nâng cao hệ số thu hồi quặng, nâng cao hàm lương quặng, nâng cao chất lượng của các sản phẩm quặng kim loại và phi kim. Mở rộng thị phần của các ngành nghề ngoài than. Phát triển các ngàng luyện kim (màu và đen), phát triển ngành hoá than.

- Thời kỳ ba: tiếp tục phát triển theo chiều sâu các ngành nghề. Tiến tới hình thành tập đoàn đa ngành (tài chính, công nghiệp, dịch vụ). Lấy công nghiệp khai khoáng và luyện kim làm trọng tâm. Ưu tiên phát triển các ngàng nghề dịch vụ, tài chính, tín dụng, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm. Thực hiện thường xuyên và có hiệu quả việc kinh doanh các doanh nghiệp…

2. Các chính sách nhất quán của Chiến lược phát triển

Chính sách nhất quán và bao trùm của TKV như trên đã nêu được lựa chọn dựa trên hai thế mạnh chủ yếu của “nội lực” - nguồn nhân lực của bản thân và “ngoại lực” - nguồn tài nguyên của đất nước. Đây cũng là hai yếu tố chủ quan và khách quan đã được lựa chọn là tiêu biểu để định hướng cho các giai đoạn phát triển của TKV.

Mục đích của chính sách đó là: (i) khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn tài nguyên khoáng sản của đất nước, (ii) tiếp tục tạo ra thị trường cho các sản phẩm khoáng sản, và (iii) tạo ra các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh có lãi phát triển. Cụ thể:

- Than không chỉ là sản phẩm sẽ được TKV cung cấp thẳng cho thị trường như một dạng nhiên liệu. Sản phẩm than sẽ được nâng cấp giá trị và giá trị sử dụng. TKV sẽ tiếp tục biến than thành nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác như coke, khí hoá lỏng, dung dịch nhiên liệu than nước, dầu, phân đạm. v.v.. Ngành công nghiệp hoá than sẽ dần thay thế ngành chế biến than và nâng cao hiệu quả của các nhà máy sàng tuyển than hiện có;

- Than sẽ được khai thác với khoáng sản đi cùng như đá vôi, đất sét (cho xi măng), nước ngầm, nước ngọt, (cho sinh hoạt vùng Quảng Ninh), khí mỏ (cho phát điện cục bộ).

- Các nhà máy nhiệt điện chạy than sẽ được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện công nghệ phát điện theo hướng nâng cao hơn nữa giá trị sử dụng của than (như công nghệ IGCC kết hợp với UCG); Tận thu thạch cao và tận dụng xỉ than của lò hơi CFB để sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng loại nhẹ; Tổ chức các nhà máy nhiệt điện chạy than hiện có (Na Dương, Cao Ngạn) thực sự vận hành theo phương thức IPP để khai thác tối đa công suất và nâng cao hiệu quả.

- Khai thác bauxit để chế thành hydroxit nhôm, phèn chua, alumin, nhôm thỏi, các sản phẩm sâu của nhôm v.v…; Khai thác quặng đồng để chế thành tinh quặng đồng, axit sunfuric; Kết hợp khai thác apatit để sản xuất supe phốt phát, phân lân; Kết hợp sản xuất vật liệu nổ công nghiệp với sản xuất phân đạm và ngược lại; Phát triển ngành vật liệu nổ công nghiệp thành ngành công nghiệp hoá chất mỏ v.v…

- Phát triển các ngành nghề mới có đủ sức cạnh tranh như: kinh doanh cảng biển; vận tải tiêu thụ bán than theo giá CIF; cung ứng chất đốt than sinh hoạt và gas hoá lỏng, nước sinh hoạt, điện dân dụng;

- Phát triển các sản phẩm vật liệu mới từ khoáng sản: khai thác đá bazan để chế biến thành các sợi làm vật liệu cách điện và vật liệu mới, sản xuất bột diatomit, bột titan trắng, khai thác các loại quặng barit, bentonit, các thuỷ tinh… ở qui mô công nghiệp.

- Tích cực chủ động sáp nhập các doanh nghiệp bên ngoài TKV để gia tăng thị trường mới gồm: quặng sắt cho luyện gang/ thép, than coke cho luyện kim, apatit cho phân bón, bentonit cho khai thác dầu, đá cho xây dựng, cát thuỷ tinh cho sản xuất kính nổi… Hướng ưu tiên cho việc sáp nhận và/ hoặc mua cổ phần chi phối gồm: các doanh nghiệp KHCN về mỏ và luyện kim, các doanh nghiệp cung ứng gas, chất đốt, các nhà máy xi măng, nhà máy nhiệt điện chạy than tại khu vực Quảng Ninh; hệ thống phân phối điện tại các khu Quảng Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyến đường sắt chuyên dùng Bãi Cháy - Phả Lại - Yên Viên; Lạng Sơn - Na Dương;

- Phát triển mạnh lĩnh vực kinh doanh (mua/ bán) doanh nghiệp thông qua thị trường chứng khoán.

3. Các định hướng cơ bản của Chiến lược phát triển

3. 1 Về thị trường:

(i) Chấp nhận hội nhập và thị trường hoá tối đa;

(ii) Thoả mãn có điều chỉnh các nhu cầu trong nước, đẩy mạnh xuất/ nhập khẩu theo tiêu chí hiệu quả cụ thể;

(iii) Duy trì sự cân bằng giữa các thị trường để tránh rủi ro, tham gia mới các thị trường đã có sẵn;

(iv) Tạo ra các thị trường mới cho các sản phẩm khoáng sản mới.

3. 2 Về đầu tư:

(i) Gắn dầu tư với tiêu chí hiệu quả, đảm bảo theo phương thức lấy dự án nuôi dự án;

(ii) Đầu tư dự án để kinh doanh dự án (bán dự án để đầu tư dự án khác).

(iii) Đẩy mạnh đầu tư tài chính (mua/ bán, sáp nhập các công ty/ doanh nghiệp);

(iv) Phát triển đầu tư quốc tế (với nước ngoài và ra nước ngoài).

3. 3 Về khoa học công nghệ:

(i) Nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ hiện đại tiên tiến nhằm nâng cao mức độ an toàn lao động, an toàn môi trường, tăng năng suất lao động, khai thác tiết kiệm các nguồn tài nguyên khoáng sản, giảm chi phí;

(ii) Biến khoa học, công nghệ thành lực lượng sản xuất trực tiếp; Chuyển các viện nghiên cứu thành các doanh nghiệp KHCN vì mục tiêu lợi nhuận;

(iii) Tăng cường hợp tác KHCN với nước ngoài.

3 . 4 Về môi trường:

(i) Chủ động bảo vệ môi trường

(ii) Phát triển thân thiện với môi trường

(iii) Kinh doanh các dự án môi trường.

Về quản trị chi phí:

Thực thi các biện pháp quản trị nhằm mục tiêu “chi phí tối thiểu cho hiệu quả tối đa”.

3. 5 Về huy động vốn:

(i) Áp dụng linh hoạt các phương thức và kênh huy động vốn trong nền kinh tế thị trường (vay các ngân hàng trong và ngoài nước, thuê mua, thuê khai thác, thuê vận hành, hợp tác gia công);

(ii) Phát triển trái phiếu trên các thị trường chứng khoáng trong và ngoài TKV v.v…).

3. 6 Về hội nhập quốc tế:

(i) Hội nhập sâu rộng và cụ thể;

(ii) Quốc tế hoá các hoạt động của TKV, hợp tác với các công ty lớn có vị thế toàn cầu.

Về Phát triển các doanh nghiệp:

(i) Thực hiện việc chuyển từ kinh doanh sản phẩm sang kinh doanh các doanh nghiệp;

(ii) Thực hiện đa sở hữu;

(iii) Tiến tới cổ phần hoá cả công ty mẹ (chỉ giữ lại 51% của Nhà nước).

3. 7 Về phát triển các nguồn nhân lực:

(i) Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, cán bộ thạo việc, nhân viên trung thành.

(ii) Tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, kinh tế, văn hoá, tạo dựng các sắc thái văn hoá riêng của TKV.

(iii) Đào tạo phải là một lĩnh vực kinh doanh có lãi, dịch vụ có thu; Trường đào tạo phải đạt các tiêu chuẩn, tiêu chí quốc tế;

(iv) Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo có phong thái làm việc chủ động hiệu quả, biết đặt ra vấn đề và chủ động giải quyết vấn đề một các khoa học với tốc độ cao.

3. 8 Về thương hiệu và truyền thống văn hoá:

(i) Lấy chữ tín làm đầu, coi “Khách hàng là cha đẻ của Thượng đế”

(ii) Phát huy truyền thống của TKV, xây dựng văn hoá doanh nghiệp với sắc thái riêng của TKV phù hợp với các chuẩn mực quốc tế;

(iii) TKV phải trở thành thương hiệu quen thuộc, được ưa thích và có uy tín trong khu vực và quốc tế.

4. Các mục tiêu quan trọng của Chiến lược phát triển

4. 1. Than:

- Phát triển nhanh, mạnh ngành than nhằm thoả mãn nhu cầu trong nước và xuất khẩu hợp lý, hiệu quả;\

- Duy trì tỷ trọng chi phối của than trong cân bằng năng lượng của Việt Nam ;

- Phát triển các vùng than mới Đồng bằng Bắc Bộ, than bùn, than ở Lào;

- Phát triển ngành công nghiệp hoá than cạnh tranh với ngành hoá dầu: tổ chức sản xuất thử huyền phù than nước, khí hóa than cấp cho đun nấu sinh hoạt, chế tạo điện cực than;

- Chế tạo được than luyện kim thay thế than coke;

- Khuyến khích áp dụng “công nghệ than sạch” CCT.

4. 2. Urani:

- Chủ động thăm dò để xin phép quản lý khai thác các mỏ urani;

- Chủ động nghiên cứu khả năng thu hồi urani của mỏ Nông Sơn (từ tro than và đất thải), germani của mỏ Núi Hồng (từ tro than).

4. 3. Địa nhiệt:

- Chủ động khảo sát để xin phép quản lý và khai thác các nguồn địa nhiệt ở Tây Bắc Bộ và Nam Trung Bộ;

- Ưu tiên khẳng định chủ quyền quản lý đối với 36 nguồn địa nhiệt có nhiệt độ cao (61 - 100 0C) đã được phát hiện.

4. 4. Điện:

- Sử dụng than có chất lượng thấp, xít thải để phát điện tại chỗ ngay ở vùng mỏ với các qui mô phù hợp bằng các công nghệ tiên tiến hiện đại; Hợp tác gia công điện với các đối tác nước ngoài có công nghệ và có kinh nghiệm;

- Phát triển các dự án điện (nhiệt điện và thuỷ điện) gắn với các hộ tiêu dùng điện lớn của TKV (như các doanh nghiệp ở vùng Quảng Ninh, Bắc Thái, Lạng Sơn hay dự án nhôm ở Nam Trung Bộ), bán điện cho các độ lớn ngoài TKV (như các khu công nghiệp Dung Quất, Chu Lai); Tiến tới tham gia kinh doanh cung ứng điện trực tiếp cho các loại phủ tải (công, nông, thương nghiệp) ở các tỉnh như Quảnh Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên và một số đô thị, địa phương khác.

4. 5. Cơ khí:

- Sửa chữa, phục hồi được tất cả các chủng loại thiết bị phương tiện khai thác;

- Chế tạo thiết bị (gồm cả xe tải, tàu thuỷ, toa xe đường sắt) dần trở thành ngành chính, mạnh.

- Hợp tác với các nước chế tạo/ lắp ráp có hiệu quả tại Việt Nam các thiết bị cơ giới nặng phục vụ ngành công nghiệp khai khoáng (cả lộ thiên, hầm lò, sàng tuyển, chế biến than, chế biến khoáng sản).

- Phát triển các xưởng luyện kim (gang, sắt, thép không rỉ, đồng) bên cạnh các nhà máy cơ khí hoặc mỏ quặng;

4. 6. Hoá chất:

Sản xuất đủ nguyên liệu nitrat amôn cho ngành vật liệu nổ công nghiệp (khoảng 50.000 t/năm);

- Chủ động sản xuất, cung ứng đủ và tiến tới xuất khẩu các loại thuốc nổ ANFO, thuốc nổ nhũ tương cho các mỏ lộ thiên, các loại thuốc nổ cho các mỏ hầm lò.

- Chế tạo các phương tiện nổ, phát triển có hiệu quả các dịch vụ khoan nổ mìn hiện đại tiên tiến cho các mỏ trong và ngoài TKV;

- Sản xuất axit sunfuric (khoảng 50.000 t/năm);

- Hợp tác chặt chẽ với các cơ sở sản xuất và cung ứng vật liệu nổ công nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng.

4. 7. Xi măng:

- Tận dụng đá thải của mỏ than Khánh Hoà để phát triển sản xuất xi măng tại Quán Triều. Hiện đại hoá xi măng La Hiên;

- Tổ chức sản xuất bê tông nhẹ từ các nguồn vật liệu sẵn có tại chỗ

- Nghiên cứu hợp tác sản xuất xi măng mác cao tại Quảng Ninh.

4. 8. Nhôm:

Phát triển nhanh và đồng bộ để trở thành ngành kinh tế chủ lực của khu vực Tây Nguyên, ven biển Nam Trung Bộ và ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

4. 9. Sắt:

- Hoàn thiện các công nghệ khai thác quặng sắt ở Nà Lũng (Cao Bằng), Hạ Hoà (Phú Thọ), Kíp Tước (Lào Cai);

- Phát triển khai thác qui mô công nghiệp quặng sắt ở các vùng mỏ khác như Bắc Cạn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Lào Cai, Hà Giang.

- Nghiên cứu khả năng làm nhà thầu khai thác và/ hoặc tham gia đầu tư phát triển mỏ sắt lớn Thạch Khê (Hà Tĩnh), Quý Xa (Lào Cai).

- Phấn đấu đạt sản lượng 3 - 5 triệu tấn quặng sắt/ năm.

4. 10. Thiếc:

- Tập trung khai thác có hiệu quả các mỏ thiếc gốc và thiếc sa khoáng ở Quỳ Hợp (Nghệ An), Tĩnh Túc (Cao Bằng), Sơn Dương, Bắc Lũng, Đại Từ.

- Nghiên cứu khả năng mở rộng khai thác thiếc ở các khu vực khác như Tam Đảo, Đa Chay (Đà Lạt), Thường Xuân (Thanh Hoá), Hương Sơn (Hà Tĩnh).

- Kết hợp khai thác thiếc bằng thủ công qui mô nhỏ với việc cơ giới hoá khâu tuyển luyện tại chỗ đảm bảo môi trường.

4. 11.Vàng:

- Ưu tiên đầu tư thăm dò và khai thác các điểm mỏ vàng sa khoáng dọc theo các đứt gãy sông Hồng, sông Đà, sông Mã, hoặc phần rìa các khối nâng Hoà Bình (Kim Bôi), Kon Tum (Bồng Miêu, Trà Năng, Suối Ty);

- Phát triển và hoàn thiện công nghệ khai thác vàng gốc và tuyển luyện thu hồi tối đa các khoáng hoá như thạch anh - vàng (Bồ Cu, Thái Nguyên), thạch anh - sunfua - vàng (Pắc Lạng, Trà Năng, Bồng Miêu), vàng - bạc (Nà Pái, Xà Phía).

- Đẩy mạnh công nghệ thu hồi vàng cộng sinh với antimon, đồng, thiếc, chì, kẽm. Đặc biệt thu hồi vàng trong mỏ đồng Sinh Quyền với trữ lượng hơn 35 tấn và hàm lượng trung bình 0,46 - 0,55 g/t.

4. 12.Đất hiếm:

- Phát triển các mỏ đất hiếm nhóm nhẹ (Lai Châu), nhóm nặng (Yên Bái).

- Thu hồi đất hiếm cộng sinh tại mỏ đồng Sinh Quyền;

- Phát triển công nghệ xử lý quặng đất hiếm tới các sản phẩm tinh quặng trên 30% ReO, tổng oxyt > 90%, hợp kim trung gian đất hiếm, fero đất hiếm.

4. 13. Cromit:

Hợp tác với nước ngoài và liên doanh với các địa phương đầu tư khai thác, chế biến sâu với qui mô công nghiệp, bằng công nghệ hiện đại, bảo vệ tốt môi trường trên cơ sở qui hoạch toàn bộ trữ lượng quặng cromit có tại Thanh Hoá.

4. 14. Kẽm chì:

- Hoàn thiện công nghệ khai thác quặng sunfua kẽm chì bằng phương pháp hầm lò qui mô nhỏ kết hợp công nghệ tuyển nổi cho tinh quặng kẽm đạt > 50% Zn và chì đạt 60% Pb.

- Hoàn thiện công nghệ lộ thiên để khai thác quặng oxit kẽm.

- Luyện kẽm chì với qui mô công nghiệp tại vùng có mỏ.

4. 15. Titan:

- Tích cực khai thác các mỏ sa khoáng titan ven biển khu vực Cẩm Hoà, Kỳ Khang (Hà Tĩnh) Đề Di, Mũi Né - Hàm Tân (Bình Thuận);

- Áp dụng các công nghệ tuyển tinh bằng từ, điện, bàn đãi khí…

4. 16. Đồng:

- Phát triển các công nghệ khai thác lộ thiên kết hợp với hầm lò để khai thác mỏ đồng Sinh Quyền, Bản Phúc.

- Đầu tư hợp lý khâu luyện để nâng cao chất lượng đồng thỏi đủ tiêu chuẩn để sản xuất dây điện phục vụ cho các ngành công nghiệp chế tạo thiết bị điện.

- Kết hợp khai thác với khâu tuyển luyện thu hồi vàng và các kim loại khác đi kèm.

- Đẩy mạnh việc hoàn thiện công nghệ và nâng cao sản lượng tinh quặng S > 38% (lên khoảng 20.000 tấn) và sản lượng axit sunfuric (lên khoảng 40.000 tấn) của tổ hợp Sinh Quyền.

4. 17. Antimon:

- Kết hợp khai thác antimon với việc tận thu vàng đi kèm tại các khu mỏ Làng Vài, Khuôn Phục (Tuyên Quang), Tà Sỏi (Nghệ An).

- Khẳng định giá trị và sớm đưa vào khai thác khu mỏ Dương Huy (Quảng Ninh);

4. 18. Mangan:

- Thăm dò mangan ở Cao Bằng và các nơi khác;

- Hoàn thiện công nghệ khai thác thủ công thân quặng deluvi Tốc Tác, Trà Lĩnh Cao bằng để nâng cao hệ số thu hồi quặng;

- Đẩy mạnh thăm dò thêm các khu mỏ ở Hưng Nguyên, NamĐàn Nghệ An, Thánh Hoá, Tuyên Quang (ngoài mỏ Làng Vài).

4. 19. Graphit:

- Khai thác các mỏ Mậu A (Yên Bái), Nậm Thi (Lào Cai), Hưng Nhượng (Quảng Ngãi) bằng các công nghệ lộ thiên được hoàn thiện;

- Phát triển công nghệ làm giầu quặng bằng tuyển nổi, đưa hàm lượng cácbon lên > 95%.

4. 20. Barit:

- Tổ chức khai thác ở Sơn Thành, Đại Từ (Thái Nguyên), Tân Trào (Tuyên Quang).

- Thăm dò mỏ mới vùng Lai Châu để tổ chức khai thác.

4.21. Pyrit:

- Không phát triển khai thác quặng pyrit cho đến khi giá CIF nhập khẩu S còn dưới 70 $/tấn.

- Không sử dụng pyrit để sản xuất axit sunfuric.

4. 22. Bentonit:

- Đẩy mạnh khai thác, nâng sản lượng bentonit lên khoảng 20.000 – 50.000 tấn/ năm.

- Nghiên cứu công nghệ chế biến để đáp ứng mọi yêu cầu về sản phẩm.

4 . 23. Cát thuỷ tinh:

- Tổ chức khai thác dọc bờ biển, tại các khu vực có hàm lượng SiO 2lớn và Fe 2O 3nhỏ;

- Phát triển sản xuất kính cao cấp bằng các công nghệ tiên tiến hiện đại.

4. 24. Đá Vôi:

- Tổ chức khai thác đá vôi cho sản xuất xi măng trong các khu vực có nhà máy đang hoạt động;

- Đầu tư công nghệ khai thác và chế biến bột đá cung cấp đủ cho các nhu cầu của các ngành sản xuất sơn, giấy, mỹ nghệ trong nước và xuất khẩu.

4. 25. Nước sạch:

- Thiết lập các hồ chứa nước ngọt nhân tạo, tổ chức khai thác các nguồn nước ngọt ở khu vực Quảng Ninh, Lạng Sơn để kinh doanh (cấp cho các nhu cầu công nghiệp và sinh hoạt): Nghiên cứu xây dựng hồ nước ngọt Bãi Cháy khu vực Cửa Lục (Quảng Ninh). Chủ động tiếp nhận để khai thác hồ Nà Cáy, Nà Đươi (Lạng Sơn);

- Triển khai các dự án kinh doanh nước sạch cho các cụm dân cư, nông thôn, thành phố trên cơ sở khai thác nước ngầm và sử dụng các công nghệ lọc bằng màng thẩm thấu ngược trong các trạm di động, tại chỗ, nhỏ gọn (theo kinh nghiệm của Ba Lan).

5. Các địa bàn quan trọng của Chiến lược phát triển

Để đạt được các mục tiêu chiến lược như nêu trên, các địa bàn quan trọng của Chiến lược (các vùng chiến thuật) gắn với các sản phẩm mũi nhọn được xác định như sau:

(1)   Vùng Quảng Ninh: Là “địa bàn Vàng”, là căn cứ địa của Tập đoàn TKV được tập trung phát triển với các sản phẩm mang tính chiến lược như than, nhiệt điện, chế tạo máy, vật liệu nổ công nghiệp, cảng biển, du lịch và thương mại quốc tế.

(2)   Vùng Tây Nguyên - ven biển miền Trung: là “địa bàn Bạc” được ưu tiên phát triển các sản phẩm mũi nhọn như bauxit - alumin - thuỷ điện - nhôm, cát - kính, các khoáng sản khác, cảng biển;

(3)   Vùng Đồng bằng Bắc bộ là “địa bàn Mới” được ưu tiên phát triển với các sản phẩm mới có hàm lượng khoa học công nghệ cao thuộc lĩnh vực hoá than như than nhiệt (steaming coal), huyền phù than - nước, khí hoá lỏng từ than;

(4)   Vùng Tây Bắc là “địa bàn Đồng” được xác định ưu tiên phát triển các sản phẩm như đồng, apatit, phân bón;

(5)   Vùng Việt Bắc là “địa bàn Sắt” được ưu tiên phát triển với các sản phẩm khoáng sản kim loại đen, kim loại màu và phi kim (như quặng sắt - gang - thép, bauxit - alumin), thuỷ điện, xi măng.

(6)   Vùng Bắc Trung Bộ là “địa bàn Crôm” với các sản phẩm được ưu tiên phát triển như crômit - fero crôm;

(7)   Ngoài các vùng chiến thuật trong nước, TKV đang nghiên cứu để đầu tư ra nước ngoài. Trước mắt, Lào là địa bàn có thể được phát triển với sản phẩm than, khoáng sản và thuỷ điện.

6. Các yếu tố đảm bảo thành công của Chiến lược phát triển

Các yếu tố đảm bảo cho sự thành công của Chiến lược là: tổ chức, triển khai, quản lý và phối hợp.

Trong tổ chức soạn thảo, TKV đặc biệt quan tâm đến các (6) đặc trưng của Chiến lược như:

  1. Tính toàn cục: Chiến lược phát triển phải phù hợp với các xu thế phát triển, là cương lĩnh hoạt động chung;
  2. Tính nhìn xa: nắm được các xu thế phát triển, dự báo đúng các xu thế;
  3. Tính cạnh tranh: là đặc trưng cơ bản nhất của chiến lược phát triển;
  4. Tính rủi ro: đòi hỏi nhà quản lý doanh nghiệp phải đứng cao, nhìn xa, quan sát đánh giá khách quan thận trọng mọi tính chất và phương hướng thay đổi của các sự việc.
  5. Tính chuyên nghiệp và sáng tạo: phát triển trên cơ sở phù hợp với các sở trường của mình, và tích cực du nhập và phát triển các công nghệ kỹ thuật mới một cách sáng tạo;
  6. Tính ổ định tương đối trong một hời kỳ nhất định trên cơ sở có điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh khách quan từng giai đoạn.

Bảng 1

Soạn thảo

Thực hiện

Đánh giá

Môi trường bên ngoài

Nhiệm vụ

Mục tiêu

Môi trường nhiệm vụ

Chiến lược

Cơ chế

Nguồn lực thực hiện

Chương trình

Ngân sách

Nguồn lực thực hiện

Thủ tục

Thực hiện

Trong triển khai, để đảm bảo thành công, TKV sẽ thực hiện các (7) bước chính như sau:

  1. Đánh giá chính xác hoàn cảnh trong và ngoài phạm vi chiến lược;
  2. Phân bố các nguồn lực phù hợp các mục tiêu cần đạt được;
  3. Xác định xu hướng thực của các hoạt động SXKD;
  4. Thực hiện những kế hoạch ngắn hạn hợp lý cho từng năm;
  5. Thực hiện những quy hoạch dài hạn toàn diện cho từng ngành nghề;
  6. Đánh giá khách quan kết quả SXKD;
  7. Kiểm tra lại những hậu quả ngoài ý muốn và những sai sót (nếu có).

Trong quản lý Chiến lược TKV sẽ áp dụng quy mô hình quản lý được thể hiện trên bảng 1.

Việc phối hợp Chiến lược là khâu quan trọng cuối cùng, nhằm đạt được các mục đích lâu dài, các mục đích trước mắt, cũng như sự hài hoà tổng thể của các lợi ích. Cụ thể như sau:

Mục đích lâu dài của TKV là: (i) Cung cấp hàng hoá đa dạng trong thời kỳ phát triển cũng như trong thời kỳ khó khăn; (ii) Sử dụng chiến lược “cân bằng thị trường” để phát triển; (iii) Duy trì thế mạnh tài chính để phát triển nội lực; và (iv) Duy trì việc kiểm tra quản lý tập trung của Tập đoàn nhưng phải đưa ra được phương thức quản lý tự quyết của các công ty con nhằm quản lý hiệu quả và đối mặt với những điều kiện cạnh tranh trong thương trường;

Mục đích trước mắt TKV là: (i) Quản trị chi phí, giảm giá thành và trang thiết bị khi thị trường không ổn định và việc tiêu thụ than bị giảm mạnh; (ii) Gia tăng thị phần trong cân bằng năng lượng khi thị trường phát triển; (iii) Củng cố tổ chức, nâng cao hiệu quả của SXKD… Những yêu cầu TKV cần đáp ứng khi phối hợp chiến lược như sau:

-         Công ty mẹ: lợi nhuận cao, cổ tức cao, giá trị cổ phần cao.

-         Công ty con: lương cao, công việc đảm bảo, thưởng cao, các điều kiện làm việc an toàn, có cơ hội thăng tiến, hài lòng trong công việc, có ảnh huởng quyết định đến các chi phí đầu vào, ngày nghỉ nhiều, giờ làm việc ngắn, làm việc vào giờ thuận tiện, được tham gia phân phối thưởng….

-         Khách hàng: Giá thấp, hàng hoá chất lượng cao, nguồn cung cấp đảm bảo, thanh toán thuận tiện, sản phẩm an toàn, đảm bảo hàng hoá đúng qui cách, dịch vụ nhanh, thuận tiện cởi mở, thời gian mở cửa dài, vị trí thuận lợi…

-         Xã hội: Ô nhiễm thấp, quan tâm đến môi trường, phát triển cộng đồng, sử dụng các nguồn khan hiếm một cách thích hợp, hỗ trợ các cơ quan chức năng, hỗ trợ các hoạt động công đồng, hỗ trợ tầng lớp nghèo, giải quyết chia sẻ các trách nhiệm chung của địa phương…

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.