Điều trị ung thư gan giai đoạn trễ
Thưa bác sĩ, tại sao phần đông các bệnh nhân ung thư gan tại Việt Nam thường phát hiện bệnh ở giai đoạn trễ?
Các triệu chứng của bệnh ung thư gan thường rất ít và không rõ ràng, như: đau vùng hạ sườn phải, hoặc đau ở đỉnh vai phải; mệt mỏi, biếng ăn, sụt cân, sốt không rõ nguyên nhân. Trong giai đoạn trễ xuất hiện báng bụng, gan to, lách to, vàng da, xuất huyết nội. Do các triệu chứng lúc ban đầu thường mơ hồ và giống như triệu chứng của nhiều bệnh lý khác, đặc biệt là bệnh lý nằm trong ổ bụng, nên đây là loại bệnh thường được chẩn đoán trễ, không những tại Việt Nam mà ở cả triệu chứng đau bụng mơ hồ, biếng ăn và sốt không rõ nguyên nhân 2 năm trước khi được chẩn đoán là ung thư gan.
Thưa bác sĩ, được biết ung thư gan không thích hợp với việc xạ trị như những loại ung thư khác, bác sĩ có thể cho biết những phương pháp điều trị ung thư gan hiện nay, và điều kiện để áp dụng phương pháp này?
Hiện nay, các phương pháp điều trị ung thư gan được áp dụng tùy theo từng trường hợp cụ thể: ung thư gan khu trú và có khả năng phẫu thuật, phẫu thuật cắt bướu, cắt thùy gan khi tổn thương khu trú hoặc còn nhỏ (chỉ khoảng 10% bệnh nhân có thể thực hiện).
Vấn đề cắt toàn bộ gan và ghép gan đang được nghiên cứu đánh giá.
Ung thư gan khu trú và không có khả năng phẫu thuật, những trường hợp còn khu trú, kích thước bướu dưới 5 cm nhưng không thể phẫu thuật thì áp dụng các phương pháp khác như: Nút hóa chất động mạch gan (TACE), dùng chất đồng vị phóng xạ (TARE) như Y90, tiêm cồn tuyệt đối qua da, đốt u bằng nhiệt sóng cao tần (RFA), phá hủy bằng đông lạnh (crysurgery).
![]() |
Hóa trị toàn thân dùng Doxorubicin đơn thuần hoặc phối hợp.
Việc kết hợp hóa trị với xạ trị để giảm kích thước bướu trước khi phẫu thuật đã được áp dụng nhưng hầu hết các trường hợp gan không chịu được liều tia xạ.
Khi dự định điều trị với xạ trị ngoài (ít khi dùng) phải luôn xem xét mối tương quan giữa độ nhạy xạ của mô gan lành và bướu.
Thưa bác sĩ, cho đến nay phẫu thuật vẫn là phương pháp được sử dụng nhiều, tuy nhiên sau phẫu thuật, tỉ lệ tái phát thường rất cao, như vậy theo bác sĩ, có phương pháp nào giúp ngăn ngừa tỉ lệ tái phát và di căn này?
Do ung thư gan thường đa ổ và đa vị trí nên ngay trong những trường hợp ung thư gan khu trú, có phẫu thuật được, chỉ 30 – 40% sống còn 5 năm và thời gian sống còn trung bình khoảng 3 năm. Tại Mỹ, thời gian sống còn trung bình sau phẫu thuật là 22 tháng đối với bệnh nhân có xơ gan và 32 tháng đối với bệnh nhân có gan bình thường. Trong một số trường hợp tái phát, phẫu thuật lại cũng cho kết quả tốt.
Do tỷ lệ tái phát cao trong những trường hợp này, người ta đã tiến hành hóa trị hỗ trợ sau phẫu thuật với hóa trị toàn thân hoặc dùng phương pháp nút hóa chất động mạch gan hoặc dùng miễn dịch liệu pháp với Interleukin 2 và ức chế CD3 nhằm mục đích kéo dài thời gian tái phát và tăng thời gian sống còn. Tuy nhiên, các kết quả vẫn còn nhiều khác biệt, do đó các phương pháp này vẫn đang được nghiên cứu và đánh giá lâm sàng.
Ngoài ra, bệnh nhân sau phẫu thuật có thể sử dụng liệu pháp nhắm trúng đích với hoạt chất Sorafenib được chỉ định điều trị ung thư biểu mô tế bào gan, nhắm vào các tế bào ác tính và giảm lượng máu tới nuôi dưỡng khối u. Tuy nhiên do giá thành cao, nên phương pháp này vẫn chưa phổ biến tại Việt Nam.









