Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 16/01/2008 16:26 (GMT+7)

"Di chứng" và "di sản" văn hoá thuộc địa Pháp tại Việt Nam

Bối cảnh lịch sử

Việc Pháp chọn Việt Nam làm điểm đến trong tiến trình xâm lược các nước thuộc địa của mình xuất phát từ nhiều ý tưởng tương đồng. Trước hết, Việt Namlà cửa ngõ bước vào Hoa Nam , Lào, Campuchia và Xiêm La (Thái Lan). Việt Nam là trạm dừng chân để tiếp tế hậu cần (nước, củi, thực phẩm, thủy thủ…) cho các thương thuyền qua lại trên biển Đông. Việt Nam còn được sự quan tâm của các nhà kinh tế ngoại giao trong đó có giới quân sự và các nhà truyền giáo Pháp. Pháp muốn đem công nghệ khoa học kỹ thuật vào Việt Nam để khai thác tiềm năng, nhân lực, vật lực, tài nguyên, đất đai… tại những vùng đất thuộc nền văn minh bán khai này thành thuộc địa. Để thực hiện ý tưởng này, Pháp ra sức thuyết phục nhà cầm quyền phong kiến đương thời tại Việt Nam để giao thương buôn bán; cố gắng tạo hình ảnh văn minh của văn hoá phương Tây tại Việt Nam theo nền tảng triết học Kitô giáo.

Tất cả ý tưởng nêu trên của Pháp đều thất bại hoàn toàn do chế độ phong kiến bế môn toả cảng và không chấp nhận thuyết giáo xa lạ với giáo điều Khổng Tử. Vì thế, từ chỗ ra sức thuyết phục, Pháp đã bước sang những lộ trình xâm lược. Biện pháp xâm lược được chọn với việc Pháp dùng “chính sách pháo hạm” qua đường biển tấn công vào Đà Nẵng 1858 và tấn công các thành trì phía Nam làm bàn đạp xâm chiếm toàn Việt Nam. Tiếp đấy là đàn áp lực lượng nổi dậy, mở rộng đất đai xâm chiếm và bình định. Tiến trình bình định của Pháp bắt đầu bằng việc xây dựng hệ thống bộ máy cai trị, cụ thể là việc phân chia lãnh thổ thành 3 khu vực: Nam Trung Bắc để cai trị; xây dựng nền tảng pháp lý theo kỹ thuật phương Tây (bãi bỏ luật lệ, thói tục phong kiến); củng cố lực lượng quân sự, xây đắp đồn luỹ… để trấn áp; xây dựng nhà tù để giam giữ lực lượng nổi dậy; xây dựng đường lối cai trị, quản lý; xây dựng nền tảng giáo dục phương Tây (bãi bỏ văn chương chữ Hán); xây dựng lối sống văn minh phương Tây; xây dựng hệ thống đường sá, cầu cống, đô thị, nhà thờ; truyền bá triết học và giáo điều Kitô giáo… Bình định được Việt Nam rồi, Pháp bắt đầu quá trình khai thác thuộc địa với hàng loạt hoạt động như xây dựng và khai thác các loại hình đồn điền, nhà máy; khai thác các quặng mỏ, thâu thuế, cướp đoạt tài sản, đất đai huỷ hoại văn hoá truyền thống, hình thái chính trị bản địa…

Tuy nhiên, trước sự đấu tranh quyết liệt để giành độc lập của Việt Nam, Pháp đã bại trận với chiến trận cuối cùng ở Điện Biên Phủ. Sau đó, Pháp buộc phải ký kết hiệp ước và chuyển giao tài sản, khí tài và rút lui khỏi Việt Nam.

Di chứng và di sản

Cả 100 năm xâm lược và thực hiện chính sách thuộc địa tại Việt Nam , Pháp đã để lại nhiều di chứng gây hậu quả, tác hại lâu dài. Đó là việc lãnh thổ bị phân chia tuy tạm thời thành hai khu vực Bắc Nam (lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới); lực lượng quần chúng, gia tộc, gia đình bị phân hoá theo quan điểm chính trị khác nhau. Một cuộc di cư vĩ đại trong lịch sử (được coi là lớn thứ hai trong lịch sử nhân loại) để chọn lựa đường lối chính trị. Bên cạnh đó là các rối loạn tâm lý (lệch chuẩn) trong một bộ phận quần chúng hai miền (do phân hoá thành hai khu vực) do tổn thương thể xác, tình thân trong chiến tranh; một số bệnh xuất hiện như béo phì, tim mạch (do sự thừa mứa về thức ăn đến cùng với viện trợ Mỹ); Hội chứng X (như hội chứng của thợ mỏ bị sập hầm còn sống sót) gây hốt hoảng và bất an trong một bộ phận công chúng. Di chứng lớn nhất là việc mở màn một cuộc chiến tranh khốc liệt (1954 - 1975) do sự phân chia giới tuyến - như sự phân chi hai thế giới (theo cách gọi của một số giới chính trị, quân sự phương Tây): cộng sản và tự do theo kiểu mẫu Mỹ. Triết học Khổng Tử trở thành một phạm trù tư tưởng bị loại bỏ. Chế độ phong kiến chấm dứt.

Nhìn lại lịch sử và xoay trở nhiều mặt để đối chiếu, so sánh với lịch sử của nhiều dân tộc, nếu Pháp đã để lại nhiều “di chứng” thì cũng đã để lại sau lưng những “di sản” quí báu. Có thể kể đến các loại giao thông vận tải; các loại xe có bánh phát triển (xe kéo, xe bò, trâu, ngựa, xe công nông, xe hơi, xe lửa…) đặc biệt là xe đạp phát triển trở thành văn hoá xe 2 bánh, bãi bỏ lối chuyên trở bằng võng, lọng, thú vật (ngựa, bò, trâu) “ngựa anh đi trước vòng nàng theo sau”. Đường sá, cầu cống, lâu đài, dinh thự phát triển; nhà hàng, khách sạn, nơi vui chơi, giải trí, các loại sân vận động, tồn tại và phát triển; đèn dầu Hoa Kỳ, đèn điện xuất hiện. Bên cạnh đó, cũng có những “di sản” văn hoá phi vật thể như việc xây dựng Luật pháp theo kỹ thuật phương Tây, lập sổ gia đình (bãi bỏ toàn bộ hệ thống quản lý theo chế độ phong kiến); xây dựng hệ thống quản lý đô thị; xây dựng hệ thống pháp trị (xác lập quyền lực báo chí, tư pháp, hành pháp…); ý thức hệ vô sản chuyên chính phát triển trên hình thái chính trị xã hội chủ nghĩa (không có người bóc lột người) do lực lượng yêu nước du nhập từ ngoài để hình thành lực lượng đối kháng mạnh mẽ và quyết định… Một điểm thuộc loại “di sản” khác cũng thể hiện rất rõ là về ngoại hình và tác phong, cử chỉ, người Việt cũng có những thay đổi như nam cắt tóc ngắn, nữ uốn tóc quăn loại bỏ búi tóc củ hành; ăn mặc theo Âu phục (đi giày sandale, không đi chân đất), vóc dáng cử chỉ thay đổi; chào hỏi bắt tay theo kiểu phương Tây, bãi bỏ lối chào “khoanh tay hay chắp tay cúi đầu”. Hàng loạt phương tiện văn minh kỹ thuật, nghệ thuật phương Tây cũng theo quá trình đô hộ phát triển như nền văn học hiện đại với kỹ thuật ấn loát theo hệ thống chữ Latinh (thay thế toàn bộ chữ Hán Nôm); phát triển hệ thống thông tin đại chúng (tryuền thanh, báo chí…) thay cho Mõ làng. Tiểu thuyết, cải lương, kịch, phim ảnh, hội hoạ, điêu khắc, thể dục thể thao; cây đàn ghita, mandolin (nhạc cụ chính trong nền âm nhạc hiện đại) là công cụ phát triển nền âm nhạc cải cách; tranh biếm hoạ xuất hiện (Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh…) ảnh hưởng truyện tranh châu Âu (Zoro, Batman, Tarzan…) phát triển lấn át tranh cổ điển như tranh gà, lợn, hái dừa, tranh tết, tranh thờ; ngành dệt may, da giày phát triển; thủ công mỹ nghệ phát triển: lắp ráp xe đạp, đóng giày, hớt tóc, đồ mộc, mây tre lá, đồ gốm, sành, sứ…

Nền móng giáo dục phương Tây phát triển, đặc biệt nền kỹ thuật công nghệ như: lý học, y học, bách khoa (trị bệnh bằng thuốc Tây thay dần thảo dược phương Đông và phương pháp vật lý trị liệu cổ truyền như cạo gió, giác hơi). Ngành khoa học xã hội nhân văn phát triển (triết học phương Tây, Kitô, đặc biệt tư tưởng lãng mạn J.J. Rousseau - Montesquieux). Triết học Mác - Lênin được du nhập và tôn sùng. Trò chơi kim loại (bằng thiếc, nhôm…) đặc biệt chú lính chì trở thành biểu tượng văn hoá thành thị cạnh tranh con tò he ở nông thôn. Văn học lãng mạn phương Tây thay thế Tứ Thư Ngũ Kinh, triết học phương Tây, Kitô giáo, Tin lành phát triển bên cạnh triết học Khổng giáo, Phật giáo… Sinh hoạt cộng đồng phát triển (tham gia đảng phái, giáo phái, hội đoàn, câu lạc bộ… ) thay cho sinh hoạt bó hẹp làng, xã. Vóc dáng người Việt Nam cao hơn, to hơn (ăn nhiều đạm, sữa bò).

Một vấn đề đáng lưu ý nữa về mặt di sản là biểu tượng của nhận thức và văn hoá. Trận đánh cuối cùng vang danh Điện Biên Phủ là sức mạnh vô dịch của dân tộc ta bị áp bức đã vùng lên lật đổ thực dân; sự thoái vị của Bảo Đại, vị hoàng đế cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam với lời tuyên bố để trở thành công dân của một nước độc lập đã gieo nhận thức về một hình thái chính trị mới có những yếu tố: độc lập, tự do, dân chủ. Lòng yêu nước trở thành loại hình văn hoá biểu tượng của tư tưởng tiến hoá của nhân loại nhằm lật đổ toàn diện hình thái thực dân thuộc địa.

Nguồn: Xưa & Nay, số 295, 11 - 2007, tr 17.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới"
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới". Trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị.
Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.