Di chỉ khảo cổ Samreng Sen ở Campuchia và nghề luyện kim Đông Nam Á
Di chỉ Samreng Sen có một vị trí nổi bật trong lịch sử ngành khảo cổ, không chỉ vì vai trò rất quan trọng của nó trong toàn bộ quá trình phát triển văn hóa vùng, mà còn vì nó là di chỉ tiền sử được phát hiện đầu tiên tại Campuchia. Mặc dù người ta đã tìm thấy rất nhiều đồ tạo tác bằng đồng nằm tản mạn trên bề mặt các chi chỉ khảo cổ ở Đông Nam Á suốt thế kỷ XIX, nhưng Samreng Sen đã mang lại một loạt các hiện vật đồng, mà được giới nghiên cứu xem như chìa khóa để tìm hiểu về giai đoạn chuyển tiếp từ thời đá mới tới giai đoạn sản xuất đồ đồng trong đời sống của cư dân cổ vùng Đông Nam Á. Chính vì giá trị này mà Samreng Sen đã tiếp nhận không ngừng dòng thác khách tham quan từ những năm 1870 –1930. Nhiều người trong số đó đã nôn nóng tìm kiếm, trao đổi, thậm chí giành giật để có được những mẫu vật đồng hiếm hoi, mà được cho là của di chỉ này. Nhưng đáng tiếc là không một mẫu vật nào có thể chứng minh được nguồn gốc di khai quật tại đây. Vì thế chúng ta phải hết sức cẩn trọng trong việc co gắng tái thiết bộ mặt của nghề luyện kim cổ ở Campuchia.
Làng Samreng Sen nằm bên hữu ngạn sông Strung – Chinit (Strung Kinit), cách hồ Tonle Sap khoảng 30km về phía đông bắc, thuộc vùng trung đông Campuchia. Suốt những năm đầu thế kỷ XX, ngôi làng này là nơi cư ngụ của khoảng 100 người dân trong 30 - 40 ngôi nhà, nằm rải rác khắp triền đồi dài 350m, rộng 180m và cao khoảng 6m. Ngọn đồi vốn chỉ có bùn và một lớp dày tích tụ những vỏ sò nước ngọt này, hầu như bị ngập hoàn toàn trong mùa mưa. Tuy nhiên khi mùa khô đến, dân cư trong làng đào các vỏ sò từ các đống phân bùn, đốt cháy chúng để sản xuất loại vôi chất lượng cao dùng nhai chung với trầu cau. Thị trường chủ yếu của họ là Phnom Penh và Kampong Chhnang.
Cuộc khai quật khảo cổ đầu tiên tại Samreng Sen được tiến hành năm 1901-1902 dưới sự chủ trì của Henry Mensuy, thuộc Viện địa chất. Công trình của Mensuy tại thời điểm này được giới khảo cổ hoan nghênh và chú ý nhiều, vì đây là” cuộc khai quật khảo cổ học đầu tiên trên toàn vùng Đông Dương có sự chỉ đạo”. Mansuy đào xuống khoảng 400 mét khối đất, làm lộ ra tầng địa chất thuần nhất dày 4,5m – chứa một thảm tro, một nền bếp và một lớp tích tụ không đều các vỏ sò nước ngọt. Hơn 200 đồ tạo tác bằng đá nằm trong lòng đất ở đây đã chứng tỏ tay nghề điêu luyện của con người, cũng như sự đa dạng đến mức cực kỳ của chúng đã đưa Mensuy đến chỗ kết luận rằng: di chỉ Samreng Sen ở vào thời đá mới. Ông nói: “Ở đây đồng thật hiếm. Chúng tôi chỉ có 3 hiện vật bằng kim loại do dân địa phương mang cho. Cuộc khai quật quan trọng mà chúng tôi đang tiến hành không mang lại một mẫu vật kim loại nào...”. Sau khi có trong tay 6 mẫu vật đồng từ những cư dân vùng Luang Prabang, trong cuộc đào thám sát tại Haut – Laos năm 1908 –1909, ông Mensuy quay về Samreng Sen một lần nữa vào năm 1923. Trước tình trạng hoang tàn lúc này của ngọn đồi, ông cho khảo sát một lần nữa và lại tìm thấy những hiện vật đá tương tự như lần khai quật trước. Sau đó ông lại được cư dân địa phương bán thêm 5 mẫu vật đồng, gồm hai cái chuông, một đục dẹp, một lưỡi câu rất bén và một nhẫn thô. Ngoài ra, ông cũng thông báo cho giới khảo cổ biết rằng trong lần đào thám sát trên nửa ngọn đồi này, ông đã tìm thấy một khuôn đúc rìu và một lưỡi rìu tròn.
Đến năm 1934, Olox Janse được chỉ định làm Trưởng ban khai quật khảo cổ tại Đông Dương, mà tâm điểm là vùng Bắc Kỳ của Việt Nam . Cuộc thám sát của ông chia làm hai đợt, suốt từ tháng 11-1934 đến tháng 1-1938. Ông thông báo đã tình cờ phát hiện được một số hiện vật trong vùng này, gồm vòng, mũi giáo, rìu, chuông và một chén rót đồng. Từ tháng 10-1938 đến tháng 9-1940, Janse đã tăng thêm một cuộc khảo sát thứ ba tới vùng Sa Huỳnh thuộc Bắc Kỳ (Việt Nam ), với sự bảo trợ của Viện Harvard Yenching.
Như vậy có thể thấy rằng, mặc dù Samreng Sen đã mang lại một số lớn những đồ tạo tác bằng đồng, kể từ khi được phát hiện lần đầu tiên bởi các nhà thám hiểm phương Tây năm 1876 nhưng hầu như không một hiện vật nào trong số đó được khẳng định có nguồn gốc do khai quật khảo cổ. Các nhà nghiên cứu cho rằng có khả năng thực sự là một số hiện vật này được thu thập bởi dân địa phương trong các vùng đâu đó ở Đông Nam Á, đã giao lưu, trao đổi với nhau thông qua con đường mua bán vôi, vốn được thiết lập rất tốt. Tuy nhiên sự xuất hiện về sau của các hiện vật như chén rót đồng và khuôn đúc đồng đã cho thấy nghề đúc đồng thật sự phổ biến tại khu vực này trong thời cổ. Hơn nữa, sự xuất hiện của các khuôn đúc đồng còn là bằng chứng mạnh mẽ cho nghề luyện kim cổ xưa tại những vùng khác nhau như Non Nok Tha và Ban Chiang ở Thái Lan; Nhommalat ở Lào; MluPre ở Campuchia, cũng như hàng loạt các di chỉ khác mới phát hiện ở Đồng Nai (Nam Việt Nam)...
Lược dịch từ bài của Robert E. Murowchick
(The Journal of the Historical Melallurgy Society, London ).
Nguồn: Thông tin KH&CN Đồng Nai, 02/2006








