Đề xuất các giải pháp phát triển vận tải hành khách công cộng
1. Hiện trạng về PTCN (ô tô con, xe máy) và phương tiện VTHKCC tại các thành phố lớn
1.1. Hiện trạng về PTCN (ô tô con, xe máy) và VTHKCC
Bảng 1: Số lượng phương tiện giao thông đường bộ 5 thành phố (năm 2009)
Đơn vị: Chiếc
STT | Thành phố | Xe máy | Xe con | Xe khách | Xe buýt | Xe tải |
1 2 | Hà Nội TP.HCM | ~3.600.000 ~4.000.000 | 215,783 249,417 | 15,800 26,875 | 1,200 3,100 | 61,315 84,254 |
3 4 | Đà Nẵng Cần Thơ | 457.765 440.909 | 9,513 4,235 | 1,918 1,728 | 64 132 | 10,012 5,054 |
5 | Hải Phòng | 576,975 | 13,174 | 2,719 | 153 | 16,523 |
(Nguồn: Sở GTVT các thành phố)
* Hiện trạng về phương tiện cá nhân (ô tô con và xe máy)
Kinh tế đất nước ta trong những năm gần đây đã có tốc độ phát triển nhanh và ổn định, do vậy nhu cầu đi lại của người dân ngày càng cao. Các loại hình VTHKCC trong đô thị chưa phát triển, đặc biệt là vận tải khối lượng lớn, hiện nay chỉ có một số dự án chuẩn bị được triển khai nên phương tiện đi lại của người dân trong các đô thị hiện nay chủ yếu là xe máy. Qua nghiên cứu phân tích, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do:
- chưa được quan tâm thực sự đến chiến lược vận tải nói chung và VTHKCC nói riêng.
- Thực hiện quy hoạch phát triển giao thông và hạ tầng đô thị chưa hợp lý, không kết nối với các quy hoạch khác dẫn đến mật độ đường giao thông đô thị trên 1km 2diện tích quá thấp.
- Mức tăng dân số cơ học ở hai thành phố hàng năm quá cao.
- Phương tiện VTKHCC chưa đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân. Việc tổ chức các đơn vị tham gia kinh doanh VTHKCC bằng xe buýt chưa phù hợp, nhiều đơn vị chưa quan tâm nhiều đến chất lượng phục vụ nên chưa thu hút được nhiều hành khách đi xe buýt.
- Công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật về ATGT đường bộ chưa thấm sâu vào nhận thức người tham gia giao thông nên chưa tạo được ý thức tự giác chấp hành các quy định của pháp luật về trật tự GTĐT. Bên cạnh đó, công tác xử lý vi phạm chưa nghiêm khắc, chưa kiên quyết xử lý đúng người có hành vi vi phạm.
* Hiện trạng về phương tiện VTHKCC
Tại các thành phố ở nước ta xe buýt là phương tiện VTHKCC chủ yếu. Hai thành phố lớn Hà Nội và TP. HCM đã xây dựng được mạng lưới tuyến phủ khắp, giảm bớt thời gian chờ đợi của hành khách, tăng thời gian hoạt động trong ngày của xe buýt. Nhiều loại phương tiện cũ, kém chất lượng dần được thay thế bằng các loại phương tiện mới có công suất lớn, tiêu chuẩn chất lượng cao hơn, xe máy lạnh, xe buýt 2 tầng (TPHCM), xe phục vụ cho người khuyết tật…
Sản lượng vận tải bằng xe buýt của các thành phố đều tăng nhanh hàng năm vượt kế hoạch được giao đặc biệt là sản lượng tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh (so với nhu cầu đi lại đáp ứng khối lượng nhỏ; Hà Nội 15%, TP. Hồ Chí Minh 10%, Đà Nẵng 3%, Hải Phòng 3%, Cần Thơ 2,5%).Chi phí trợ giá trên mỗi đơn vị sản phẩm vận tải liên tục giảm qua các năm. Giá cước xe buýt giảm hơn giá cước trên tuyến cố định đã tạo thuận lợi để giảm chi phí đi lại cho hành khách.
Bên cạnh các ưu điểm trên, còn có một số nhược điểm như sau:
- Một số tuyến xe buýt có cự ly quá dài trong khi trên xe có nhiều chỗ đứng, ít ghế ngồi nên gây mệt mỏi cho hành khách; Chất lượng xe buýt hoạt động trên một số tuyến tại một số thành phố được cải tạo từ xe khách tuyến cố định sang hoạt động buýt nên chưa đảm bảo; Tình trạng bỏ điểm dừng, bỏ nốt, không đón trả khách, đặc biệt là hành khách đi vé tháng, là người khuyết tật được miễn vé thường xuyên diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh trong thời gian qua gây bức xúc dư luận xã hội.
- Hạ tầng còn chưa phát triển so với tốc độ tăng trưởng phương tiện. Đặc biệt là quỹ đất xây dựng điểm đầu, điểm cuối, điểm trung chuyển còn quá thiếu nên việc vận hành xe buýt có nhiều khó khăn; KCHTGT đô thị không phù hợp, hệ thống đường quá chật, hẹp nên khó có khả năng tăng chuyến, thêm tuyến xe buýt trên một số tuyến đường.
- Công tác giáo dục đạo đức hành vi ứng xử người lái xe, nhân viện phục vụ trên xe chưa được chú trọng, vẫn có một số bộ phận lái xe, nhân viện phục vụ trên xe không chấp hành nghiêm các quy định của Luật Giao thông đường bộ trong công tác phục vụ.
1.2. Đánh giá chung về cơ chế, chính sách đang thực hiện ở các thành phố lớn nhằm hạn chế xe ô tô con, xe máy cá nhân và phát triển phương tiện VTHKCC
* Phát triển VTHKCC
Tuy Nghị định 24/2000/NĐ-CP quy định VTHKCC bằng xe buýt là ngành nghề được khuyến khích đầu tư và miễn thuế nhập khẩu phương tiện theo các dự án, nhưng từ khi có hiệu lực thi hành đến khi Luật Đầu tư mới được ban hành, số doanh nghiệp được hưởng chính sách ưu đãi không nhiều. Về cơ bản các địa phương đã áp dụng Thông tư 39/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính trong việc tổ chức hạch toán chi phí để phục vụ cho việc mua bán sản phẩm công ích. Tuy vậy, một số chính sách như: miễn phí cầu đường bộ, miễn tiền thuê đất, miễn giảm thuế đất chưa được thực hiện.
Nhìn chung các thành phố lớn có mật độ dân số đô thị cao đều thực hiện tốt việc quy hoạch mạng lưới xe buýt theo Quyết định số 162/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và đã có kế hoạch cụ thể. Việc phát triển VTHkCC bằng xe buýt, ngoài 2 thành phố Hà Nội và TPHCM, đã và đang áp dụng nhiều chính sách khuyến khích phát triển xe buýt như: hỗ trợ người đi xe buýt thông qua vé tháng, vé lượt, trợ giá trực tiếp cho doanh nghiệp VTHKCC…
* Hạn chế phương tiện vận tải cá nhân
Để hạn chế xe ô tô con, xe máy hoạt động ở các thành phố lón đã có nhiều biện pháp như: việc tạm dừng đăng ký xe máy ở các quận nội thành, cấm mô tô xe ô tô lưu thông trên một số tuyến phố vào một số giờ nhất định, quy định về phí, lệ phí liên quan đến xe ô tô cá nhân. Các biện pháp này chưa thật có hiệu quả nên một số đã bị bãi bỏ. hiện nay tại các thành phố còn áp dụng nhiều giải pháp khác như: giải pháp phân luồng phương tiện giao thông từ xa trước khi vào nội đo, tách dòng quá cảnh ra khỏi dòng đô thị là biện pháp đang được hoan nghênh và phát huy tác dụng nên được nghiên cứu tiếp để hoàn thiện. Ngoài ra còn rất nhiều văn bản của UBND các thành phố về khuyến khích phát triển VTHKCC và hạn chế phương tiện cá nhân…
2. Đề xuất các giải pháp về phát triển VTHKCC và hạn chế sử dụng PTCN (ô tô con, xe máy) tại các thành phố lớn ở Việt Nam
Để giải quyết các vấn đề trên đòi hỏi phải có các giải pháp mạnh mẽ đồng bộ về hạn chế sử dụng PTCN kèm theo là các giải pháp về phát triển VTHKCC tại các thành phố nói chung, đặc biệt là các thành phố lớn nói riêng.
2.1. Đề xuất các giải pháp về phát triển VTHKCC
- Tăng cường dịch vụ VTHKCC trên các hành lang chính (đường sắt đô thị, xe buýt nhanh, làn đường dành riêng…):Để hoàn thiện chất lượng dịch vụ đồng thời trên tất cả các tuyến VTHKCC là rất khó khả thi trong một thời gian hạn chế. Vì vậy việc lựa chọn các tuyến đường hành lang chính để tăng cường số lượng, chất lượng dịch vụ VTHKCC là hướng tốt nhất để hoàn thiện dần chất lượng dịch vụ VTHKCC nói chung. Các hành lang chính luôn gắn liền với các phương thức VTHKCC khối lượng lớn, tốc độ cao như đường sắt đo thị, xe buýt nhanh, buýt chạy trên làn đường dành riêng (Hà Nội đang có 3 tuyến thí điểm),..
- Quản lý phương tiện giao thông cá nhân cùng với phát triển VTHKCC:Sự phát triển của PTGTCN là một trong những nguyên nhân hạn chế sự phát triển của VTHKCC. Quản lý PTGTCN nhằm mục đích kiểm soát sự gia tăng số lượng phương tiện theo khu vực để có biện pháp hạn chế phù hợp.
- cung cấp dịch vụ VTHKCC chất lượng cao với mức chi phí người dân chấp nhận được:Chất lượng dịch vụ VTHKCC là một yếu tố quyết định để hành khách có sử dụng dịch vụ VTHKCC hay không. Chất lượng dịch vụ thể hiện qua các chỉ tiêu chính như tính tiện lợi, tính tiện nghi, mức độ thường xuyên an toàn thái độ phục vụ và quan trọng nữa là chi phí chấp nhận được. Thực tế cho thấy ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là chi phí chấp nhận được đã thu hút được một lượng lớn đối tượng hành khách có thu nhập thấp. Tuy nhiên, đối với những đối tượng có thu nhập cao hơn thì yêu cầu về chất lượng cần được nâng cao tốt hơn nữa.
- Xây dựng được một mạng lưới VTHKCC đồng bộ phù hợp với điều kiện của đô thị (tiêu chuẩn dịch vụ, khai thác kỹ thuật, hệ thống vé…):Đây là mục tiêu cuối cùng và bền vững đối với phát triển VTHKCC. Tuy nhiên, thực hiện được mục tiêu này không phải dễ dàng về nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề quỹ đất trong đô thị. Ngoài ra, các yếu tố về kiến trúc, lịch sử cũng là rào cản đối với việc phát triển mạng lưới đồng bộ cho VTHKCC.
- Đảm bảo có sự tham gia của khu vực tư nhân và cạnh tranh có kiểm soát:Yếu tố tư nhân trong kinh doanh là yếu tố quan trọng để kích thích phát triển, đặc biệt là đối với dịch vụ vận tải. Tạo lập một môi trường cạnh tranh lành mạnh sẽ tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp tham gia và cung cấp các dịch vụ VTHKCC chất lượng cao, chi phí hợp lý. Tuy nhiên, sự tham gia của khu vực tư nhân cũng dễ dẫn tới sự thỏa hiệp hay tự phát của các doanh nghiệp dẫn tới thiệt thòi cho hành khách. Vì vậy, việc đảm bảo yếu tố cạnh tranh luôn cần đi kèm với kiểm soát của Nhà nước.
- Tập trung đầu tư phát triển KCHT giao thông phục vụ VTHKCC:Đầu tư phát triển KCHT giao thông phục vụ VTHKCC là trực tiếp giải quyết nguyên nhân hạn chế sự phát triển của VTHKCC. Để đầu tư đúng chỗ cần có quy hoạch phát triển mạng lưới tuyến VTHKCC đúng đắn để việc đầu tư có hiệu quả và bền vững.
- Có các chính sách ưu tiên cho phát triển VTHKCC:Chủ trương phát triển VTHKCC phải được cụ thể hóa bằng các chính sách ưu tiên, ưu đãi gián tiếp và trực tiếp đối với VTHKCC. Các chính sách này cần được đánh giá sau quá trình thực hiện khá tốt và cần phải tiếp tục được thực hiện hơn, đồng với các chính sách hạn chế phương tiện giao thông cá nhân.
- Kiểm soát các hoạt động sử dụng đất và phát triển đô thị liên quan tới các hành lang vận tải chính:Quỹ đất đô thị phải được kiểm soát chặt chẽ và phải ưu tiên cho các công trình công cộng, đặc biệt là quỹ đất dành cho giao thông. Vì giao thông phải luôn đi trước một bước và vị trí công trình giao thông phải phù hợp nhu cầu đi lại chứ không thể theo thực tế quỹ đất nên việc ưu tiên dành quỹ đất cho giao thông phải được ưu tiên hàng đầu so với các công trình khác. Kiểm soát các hoạt động sử dụng quỹ đất bao gồm các hoạt động quản lý thống kê hiện trạng, quản lý quy hoạch và quản lý thực hiện các dự án.
- Chú trọng đầu tư trên tuyến trục hướng tâm, vành đai theo hướng hiện đại.
- Áp dụng xe buýt, xe buýt nhanh BRT, buýt cao tốc trên tuyến buýt thường.
- Xe buýt sử dụng nhiên liệu sạch hơn như CNG/LPG, hoặc xe buýt sử dụng điện - Trolleybus, xe buýt thân thiện với môi trường - để giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.
- Chú trọng hoàn chỉnh một cách hệ thống mạng lưới GTCC theo chức năng có tuyến trục, tuyến nhánh, tuyến kết nối… với các loại xe buýt phù hợp, để hấp dẫn hành khách nhiều hơn.
- Sớm thực hiện chính quy và hiện đại hóa hệ thống GTCC, áp dụng các thiết bị giao thông thông minh (ITS) trong GTCC đem lại hiệu quả thiết thực cho mọi người dân.
2.2. Đề xuất các giải pháp về hạn chế sử dụng PTCN
Bổ sung các điều kiện hành chính, kinh tế khi đăng ký và sử dụng xe máy, xe ô tô con cá nhânnhằm hạn chế các nhu cầu sử dụng PTCN không thực sự cần thiết. Các đối tượng có nhu cầu thực sự phải chấp nhận các thủ tục hành chính và chấp nhận một mức chi phí để sử dụng PTCN thay vì sử dụng PTCC.
Tăng cường công tác đăng ký, đăng kiểm, quản lý phương tiện vận tải, đặc biệt là PTCN khi tham gia giao thông:Một trong nhiều nguyên nhân dẫn tới sự bùng nổ các loại xe máy là do việc kiểm soát giấy tờ hợp lệ, hợp pháp của chủ phương tiện chưa được thực hiện triệt để, toàn diện. Kiểm soát chặt chẽ về giấy tờ hợp lệ ngoài các mục đích quản lý khác thì cũng góp phần hạn chế sự gia tăng phương tiện không có nhu cầu thực sự.
Định kỳ kiểm định kỹ thuật phương tiện theo quy định:Định kỳ kiểm định kỹ thuật phương tiện đang được thực hiện đối với xe ô tô. Tiếp tục thực hiện đối với xe máy là biện pháp nhằm loại bỏ những xe cũ không đủ điều kiện an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Định kỳ kiểm định kỹ thuật phương tiện đối với xe máy có thể gây phiền hà và tăng chi phí nhưng thực sự cần thiết để đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường, đồng thời góp phần giảm số lượng phương tiện. Quá trình thực hiện có thể nghiên cứu để xác định chu kỳ kiểm định, và thậm chí chu kỳ kiểm định có thể thay đổi theo thời gian sử dụng phương tiện, theo khu vực đô thị, nông thôn…
Tăng phí trước bạ, đăng ký xe máy, xe ô tô theo lũy tiến:Đây là một biện pháp kinh tế cụ thể nhằm hạn chế sự gia tăng sở hữu phương tiện của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, việc sở hữu phương tiện không hoàn toàn đồng nghĩa với việc lưu thông phương tiện nên biện pháp này có thể gây phản ứng, khi thực hiện cần nghiên cứu kỹ.
Thu phí sử dụng phương tiện: Thu phí sử dụng phương tiện là một biện pháp kinh tế đánh trực tiếp vào sự lưu thông phương tiện cá nhân. Phí sử dụng phương tiện được thu trên đầu phương tiện đăng ký lưu hành. Thu phí sử dụng phương tiện có thể áp dụng trên toàn quốc hoặc áp dụng có tính đặc thù cho một số đô thị lớn. Tuy nhiên, phải chú ý đến nền tảng pháp luật để đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng.
Thu phí sử dụng đường đô thị:thu phí sử dụng đường đô thị được thu trên số lượt phương tiện đi lại vào khu vực đô thị. Cần kiểm soát việc thu phí sử dụng đường đô thị nếu thực hiện bằng thủ công sẽ gây phiền hà và tốn chi phí vận hành hệ thống. Áp dụng hệ thống thu phí tự động (ETC) sẽ không ảnh hưởng tới sự lưu thông của phương tiện.
Thu phí lưu hành PTCN vào khu trung tâm, khu vực hạn chế hay xảy ra ùn tắc giao thông:Thu phí lưu hành PTCN vào khu vực hạn chế cũng giống như thu phí sử dụng đường đô thị nhưng có phạm vi hạn hẹp hơn. Hệ thống thu phí phải được thực hiện qua các hệ thống điện tử tự động để tránh cản trở dòng giao thông và ùn tắc tại điểm ranh giới khu vực hạn chế.
Tăng phí đỗ xe tại các bãi đỗ xe trong đô thị:Tăng phí đỗ xe là biện pháp kinh tế tác động trực tiếp vào lưu thông phương tiện tại đô thị, khuyến khích sử dụng PTCC. Biện pháp này rất khả thi và không phụ thuộc điều kiện kỹ thuật, không có ảnh hưởng tới lưu thông phương tiện.
Thuế, phí môi trường đô thị:Thuế, phí môi trường đô thị được thu theo đầu phương tiện lưu hành trong đô thị. Phương tiện lưu hành trong đô thị bao gồm số phương tiện đăng ký tại chỗ và phương tiện đăng ký ở khu vực ngoài đô thị nhưng có lưu hành tại đô thị. Việc triển khai thu thuế, phí này cũng tương tự như thu phí sử dụng đường đô thị và nếu cùng được thực hiện thì nên thực hiện đồng thời để giảm chi phí vận tải và sự phiền hà.
Cấm xe máy lưu thông trên một số trục chính hoặc trên một số tuyến nhất định vào giờ cao điểm; Thu phí bảo hiểm bắt buộc đối với xe ô tô và xe máy; Thu phí giao thông qua giá bán nhiên liệu…
Tăng cường tuyên truyền giáo dục, vận động để hạn chế sử dụng phương tiện cơ giới cá nhân, đồng thời với phát triển VTHKCC:Tăng cường tuyên truyền giáo dục, vận động về hạn chế sử dụng PTCN cần được thực hiện thường xuyên, liên tục và bao gồm tất cả các đối tượng chứ không chỉ tập trung vào các đối tượng có thu nhập thấp.
Để giải quyết một cách tốt nhất các vấn đề trên trước hết, phải tiến hành đồng thời các giải pháp mạnh và đồng bộ như: từng bước nâng cao thị phần của vận tải công cộng thay thế dần dần những PTCC cũ lạc hậu và thay vào đó là hệ thống xe buýt nhanh (BRT) đáp ứng yêu cầu của hầu hết người tham gia giao thông; hạn chế sự phát triển của PTCN; cải tạo, nâng cấp và xây dựng KCHTGT; quy hoạch và tổ chức giao thông; nâng cao hiệu quả việc quản lý, điều hành, bảo đảm trật tự ATGT đô thị; giáo dục tuyên truyền luật pháp GTĐT trong cộng đồng dân cư và tăng cường công tác quản lý Nhà nước về GTĐT. Tuy nhiên, đây là một bài toán khó để thực hiện đồng bộ các giải pháp, do vậy phải đặt ra mục tiêu theo từng giai đoạn và trên cơ sở đó chọn ra những giải pháp có thể thực hiện được ngay, có thể áp dụng sớm.
Việc đầu tư cải tạo, nâng cấp KCHTGT tại các thành phố hiện nay là yếu tố mang tính quyết đinh để giải quyết ùn tắc giao thông, tuy nhiên vấn đề nan giải kinh niên là nhu cầu vốn đầu tư rất lớn, mà khả năng chúng ta thì có hạn. Vì vậy, phải giải quyết từng bước, những công trình có tính đột phá, được ưu tiên trước và các công trình này có khả năng phát huy tác dụng cả cho trước mắt và lâu dài. Vấn đề hạn chế PTCN và khuyến khích phát triển VTHKCC cho các thành phố lớn cả nước nói chung và cho 5 thành phố lớn của Việt Nam nói riêng là vấn đề vô cùng cấp thiết, nhưng cũng rất phức tạp và khó khăn.








