Dây vác
Dây Vác là loại dây leo, chui rúc trong lùm cây cao bằng các tua cuốn bám vào phần xù xì của các cây lớn. Dây hình trụ, đường kính có thể đến 2 cm, dài có thể đến suốt chiều cao của cây thụ.
Lá mọc so le, kép chân vịt, gồm 3 hoặc 5 lá chét hình xoan dài 5 - 8 cm, rộng 2 - 3 cm. Phiến lá nhẵn hoặc có lông thưa ở mặt dưới, bìa lá có răng cưa.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá, màu trắng. Quả hình cầu hơi dẹt, đường kính 5 - 8 cm, mọc thành chùm 5 - 10 quả, lúc non màu lục, lúc chín màu tím bầm, mọng nước, mỗi quả có 3 - 4 hạt. Quả chín ăn được, có vị chua chát, có thể dùng nấu canh chua cá. Khi khát có thể cắt dây này uống nước tiết ra từ nơi mặt cắt. Chim ăn quả, phát tán hạt đi khắp nơi. Ở đồng bằng, rừng núi đều có dây này. Vùng nước mặn không có.
Ở Việt Nam có nhiều loài dây Vác được dùng như nhau.
Bộ phận dùng: cả dây.
Liều dùng: 20 - 50 g.
Tính vị: thanh nhiệt giải độc hoạt huyết, lợi niệu, tiêu phù.
Điều trị:
- Ung sang, áp xe, nhiễm trùng: dây Vác 30g, hoa Kim ngân (hoặc dây lá) 10g, hạt Bí đao 20g. Nấu sắc uống, dây Vác tươi giã đắp.
- Thuốc hạ nhiệt, ra mồ hôi: Dây Vác 30g, lá Điều lộn hột 20 g, lá Chanh 20g, lá Húng cây 20g. Nấu sắc uống.
- Viêm thận, phù: Dây Vác 30g, Cam thảo đất 30g, lá Sa kê 30g, Rau dừa nước 20 g, lá Mã đề 20g. Nấu sắc uống.
- Tê thấp, đau nhức xương: Dây Vác 150g, rễ Nhàu 150 g, Tô mộc 50g, rượu 1 lít. Mỗi lần uống 30 ml, mỗi ngày 2 lần.








