Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 03/12/2010 18:27 (GMT+7)

Danh hiệu biển Việt Nam - Một công cụ quản lý tài nguyên môi trường biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển

Hiện nay nhiều danh hiệu biển đã được công nhận tại Việt Nam cấp quốc gia và cấp các tổ chức quốc tế dành cho Việt Nam. Khi một vùng biển được Danh hiệu biển Việt Nam thì vùng biển dó có rất nhiều lợi ích như được nhiều người biết đến hơn; được nhiều cấp ngành và các tổ chức ở trong nước và quốc tế quan tâm; thuận lợi cho công tác quản lý tài nguyên; bảo vệ môi trường thiên nhiên điểm đến kỳ diệu đối với khách du lịch; một địa chỉ tin cậy hấp dẫn các nhà khoa học, nhà kinh tế và đầu tư liên doanh trên nhiều lĩnh vực; là trung tâm giáo dục truyền thống và phổ biến các tri thức khoa học.

Các danh hiệu biển quốc tế cho các vùng biển Việt Nam

Di sản thế giới UNESCO công nhận Vịnh Hạ Long 2 lần:

Di sản thế giới lần 1: giá trị thẩm mỹ.

Ngày 17 tháng 12 năm 1994, Hội nghị lần thứ 18 tại Phuket, Thái Lan, Ủy ban Di sản thế giới đã công nhận Vịnh Hạ Long vào danh mục Di sản thiên nhiên thế giới với giá trị ngoại hạng toàn cầu về mặt thẩm mỹ (tiêu chí vii), theo tiêu chuẩn của Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản tự nhiên và văn hóa của thế giới.

Di sản thế giới lần thứ 2: giá trị địa chất địa mạo.

Ngày 2 tháng 12 năm 2000, căn cứ Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản văn hóa và thiê nhiên thế giới và kết quả xét duyệt hồ sơ địa chất vịnh Hạ Long, tại Hội nghị lần thứ 24 của Hội đồng Di sản thế giới tại thành phố Cairms, Queensland, Úc, Hội đồng Di sản thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long là Di sản thế giới lần thứ 2 theo tiêu chuẩn viii về giá trị địa chất địa mạo.

Khu dự trữ sinh quyển thế giới là một danh hiệu do UNESCO trao tặng cho các khu bảo tồn thiên nhiên có hệ thống động thực vật độc đáo, phong phú đa dạng.

Danh hiệu khu dự trữ khí quyển là nhằm giải quyết một trong những vấn đề thực tiễn quan trọng nhất mà con người đang đối mặt hiện nay: đó là làm thế nào để có thể tạo nên sự cân bằng giữa bảo tồn thiên nhiên với sự thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, duy trì các giá trị văn hóa truyền thống đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người, phòng thí nghiệm sống cho việc nghiên cứu, giáo dục, đào tạo và giám sát các hệ sinh thái, đem lại lợi ích cho cộng đồng cư dân địa phương, quốc gia và quốc tế.

Hiện nay Việt Nam có 6 khu vực ven biển và hải đảo được Ủy ban sinh quyển và con người (MAB) thuộc UNESCO công nhận: Rừng ngập mặn Cần Giờ (2000), Quần đảo Cát Bà (2004), Châu thổ sông Hồng (2004), Ven biển và biển đảo Kiên Giang (2006), Cù Lao Chàm (2009), Mũi Cà mau (2009).

Khu bảo tồn đất ngập nước ven biển du UNESCO công nhận theo Công ước Ramsar. Công ước Ramsar (Iran, 1971) là một công ước quốc tế về bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý và thích đáng các vùng đất ngập nước, với mục đích ngăn chặn quá trình xâm lấn ngày càng gia tăng vào các vùng đất ngập nước cũng như sự mất đi của chúng ở thời điểm hiện nay và trong tương lai, công nhận các chức năng sinh thái học nền tảng của các vùng đất ngập nước các giá trị giải trí, khoa học, văn hóa và kinh tế của chúng.

Khu bảo tồn đất ngập nước Ramsar ven biển Xuân Thủy công nhận năm 1989.

Câu lạc bộ những Vịnh đẹp nhất thế giới (World Most Beautiful Bays - WMBB) là tổ chức hiệp hội những Vịnh đẹp nhất thế giới được thành lập tại Berlin vào 10 - 3 - 1997. Các vịnh thành viên phải đáp ứng một số tiêu chí như: Có một môi trường sinh thái với động thực vật thú vị; có vẻ đẹp tự nhiên và hấp dẫn; Biểu tượng cho cư dân địa phương; có nguồn kinh tế tiềm năng; ít nhất là đáp ứng được 2 tiêu chí của UNESCO trong lãnh vực văn hóa và thiên nhiên.

Việt Nam hiện có 3 vịnh được WMBB công nhận trên thế giới: Vịnh Hạ Long (2003), Vịnh Nha Trang (2005), Vịnh Lăng Cô (2009).

Kỳ quan thiên nhiên của thế giới mới (Tổ chức New Open World Corporation - NOWC), có trụ sở tại Thụy Sĩ được thành lập năm 1999. Cuộc bình chọn phát động 2007 và kết thúc năm 2010. Hiện tại vịnh Hạ Long của Việt Nam đang đứng trong tốp 7 kỳ quan đầu.

Các danh hiệu biển Việt Nam cấp quốc gia

Di sản quốc gia Việt Nam

Năm 1962, vịnh Hạ Long được Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia với diện tích 1553 km bao gồm 1969 hòn đảo.

Các đảo trong vùng vịnh Hạ Long được quy hoạch là khu bảo tồn các di tích văn hóa, lịch sử và cảnh quan quốc gia, theo Quyết định số 313/VH-VP của Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam ngày 28 tháng 4 năm 1962. Các đảo này cũng có trong danh sách các khu rừng đặc dụng theo Quyết định số 194/CT, ngày 9 tháng 8 năm 1986 của Thủ tướng Chính phủ.

Vườn Quốc gia Việt Nam. Theo quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ban hành Quy chế quản lý rừng thì vườn quốc gia là một dạng rừng đặc dụng, được xác định trên các tiêu chí sau:

Vườn quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp.

Vườn quốc gia được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái.

Vườn quốc gia được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về hệ sinh thái đặc trưng; các loài động, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên của vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn.

Chính phủ Việt Nam đã công nhận 7 vườn quốc gia thuộc ven biển và hải đảo: Cát Bà (1986), Côn Đảo (1993), Bái Tử Long (2001), Phú Quốc (2001), Xuân Thủy (2003), Núi Chúa (2003), Mũi Cà Mau (2003).

Khu bảo tồn thiên nhiên còn gọi là khu dự trữ tự nhiên (trên biển, đất liền) và khu bảo tồn loài sinh cảnh, khu được bảo vệ nghiêm ngặt, chỉ dành cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo và quan trắc môi trường, là vùng đất tự nhiên được thành lập nhằm mục đích đảm bảo diễn thế tự nhiên và đáp ứng các yêu cầu sau:

Vùng đất tự nhiên có dự trữ tài nguyên thiên nhiên và có giá trị đa dạng sinh học cao.

Có các loài động thực vật đặc hữu hoặc là nơi cư trú, ẩn náu, kiếm ăn của các loài động vật hoang dã quý hiếm.

Đủ rộng để chứa được một hay nhiều hệ sinh thái, tỷ lệ cần bảo tồn trên 70%.

Khu bảo tồn thiên nhiên: Tiền Hải (1994), Hòn Mun (2003), Cù Lao Chàm (2003), Khu bảo tồn san hô: Khu bảo tồn biển Rạn Trào - Khánh Hòa (2001) do Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD) hỗ trợ thành lập.

Hệ thống Khu bảo tồn Việt Nam

Từ năm 2004 Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã trình Chính phủ 15 khu bảo tồn biển: Đảo Trần, Cô Tô - tỉnh Quảng Ninh, Cát Bà, Đảo Bạch Long Vĩ - Hải Phòng, Hòn Mê - tỉnh Thanh Hóa, Cồn Cỏ - tỉnh Quảng Trị, Sơn Trà Hải Vân - tỉnh Thừa Thiên - Huế, Cù Lao Chàm - tỉnh Quảng Nam, Lý Sơn - tỉnh Quảng Ngãi, Hòn Mun - tỉnh Khánh Hòa, Hòn Cau, Phú Quý - tỉnh Bình Thuận, Côn Đảo - tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nam Yết - Quần đảo Trường Sa - tỉnh Khánh Hòa, Phú Quốc - Kiên Giang.

Tác động vùng có danh hiệu biển Việt Nam đến kinh tế xã hội và môi trường

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh trong chuyến thăm Vịnh Hạ Long ngày 29 - 10 - 2001 đã viết: “Vịnh Hạ Long, một kỳ quan do thiên nhiên ban tặng, một di sản thế giới, biểu tượng sự trường tồn của Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta, là niềm tự hào của nhân dân ta. Các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mãi mãi mai sau phải đem hết sức mình để gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị tuyệt vời của vịnh Hạ Long. Để vịnh Hạ Long không chỉ là điểm đến của nhân dân ta từ khắp mọi miền đất nước, mà còn là điểm hẹn của bạn bè khắp nơi trên thế giới”.

Nguyên nhân khách quan

Hạ Long, Hải Phòng và Hà Nội là các thành phố trung tâm quan trọng của sự phát triển kinh tế ở miền bắc Việt Nam. Sự phát triển kinh tế của các khu đô thị này, cùng với sự vươn lên nhanh chóng của các khu vực phía nam Trung Quốc kể cả Hồng Kông, đều dẫn đến sự gia tăng về sức ép của con người với vịnh Hạ Long. Khu vực ven biển tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng hiện có mức tăng trưởng rất nhanh về sự phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt về mặt giao thông, tàu biển, khai thác than và các ngành du lịch, dịch vụ. Từ năm 1999, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đã cảnh báo rằng việc xây dựng cảng mới ở vùng vịnh Hạ Long có thể dẫn đến sự gia tăng về giao thông đường biển trong khu vực và phát triển cơ sở hạ tầng của du lịch sẽ là các mối đe dọa đối với vịnh. Ô nhiễm do chất thải công nghiệp, sự khai thác và đánh bắt tận diệt thủy sản cũng mang lại những đe dọa nghiêm trọng. Có những ý kiến cho thấy cần tiếp tục xem xét một cách thận trọng về sự phát triển trong vùng vịnh thông qua cơ cấu quản lý vì các giá trị quan trọng về tài nguyên môi trường cho toàn vùng.

Hiện nay, sự phát triển mở rộng đô thị và sự gia tăng dân số cơ học, việc xây dựng bến cảng và nhà máy; các hoạt động du lịch và dịch vụ, rác thải trong sinh học và chế xuất, hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đã không chỉ còn là nguy cơ, mà sự ô nhiễm môi trường và sự biến đổi cảnh quan của vịnh Hạ Long đã ở mức báo động. Do ô nhiễm, tình trạng những bãi san hô ở đáy biển sâu của vịnh Hạ Long đang chết dần đi mà gần đây các nhà khoa học biển Việt Nam đã phát hiện ra. Mặt nước trong xanh của vịnh đang ngày càng đục dần, bồi lắng khiến các nhà khoa học lên tiếng cảnh báo nguy cơ vịnh Hạ Long có thể bị “đầm lầy hóa”. Thêm vào đó, do khu vực vịnh Hạ Long có hàng ngàn hòn đảo mà phần lớn là núi đá vôi, nguồn nguyên liệu xây dựng tốt lại thuận tiện cho khai thác nên rất dễ bị tư nhân lợi dụng, gây biến dạng cảnh quan.

Bảng 1. Bảng các danh hiệu biển Việt Nam

STT

Địa danh

Tỉnh

Quốc gia

Quốc tế

Tổng

1

Vịnh Hạ Long

Quảng Ninh

1962

1994 - 2000

2003 - 2010

5

2

Đảo Trần

Quảng Ninh

2004 *

1

3

Đảo Cô Tô

Quảng Ninh

2004 *

1

4

Bái Tử Long

Quảng Ninh

2001

1

5

Cát Bà

Hải Phòng

1994 - 2004 *

2004

3

6

Bạch Long Vĩ

Hải Phòng

2004 *

1

7

Xuân Thủy

Nam Định

2003

1989

2

8

Châu thổ sông Hồng

N. Định - T. Bình - N. Bình

2004

1

9

Hòn Mê

Thanh Hóa

2004 *

1

10

Cồn Cỏ

Quảng Trị

2004 *

1

11

Sơn Trà - Hải Vân

Thừa Thiên Huế

2004 *

1

12

Vịnh Lăng Cô

Thừa Thiên Huế

2004 *

1

13

Cù Lao Chàm

Quảng Nam

2003 - 2004 *

2009

3

14

Lý Sơn

Quảng Ngãi

2004 *

1

15

Hòn Mun

Khánh Hòa

2003 - 2004 *

1

16

Vịnh Nha Trang

Khánh Hòa

2005

1

17

Rạn Trào

Khánh Hòa

2001

1

18

Nam Yết

Khánh Hòa

2004 *

1

19

Hòn Cau

Bình Thuận

2004 *

1

20

Phú Quý

Bình Thuận

2004 *

1

21

Núi Chúa

Ninh Thuận

2003

1

22

Côn Đảo

Bà Rịa - Vũng Tàu

1993 - 2004 *

1

23

Cần Giờ

Tp Hồ Chí Minh

2000

2

24

Mũi Cà Mau

Cà Mau

2003

2009

2

25

Phú Quốc

Kiên Giang

2001 - 2004 *

2006

1

26

Ven biển và biển đảo Kiên Giang

Kiên Giang

Tổng

26

17

27

12

39

Ở một khía cạnh khác, biến đổi khí hậu toàn cầu với mực nước biển dâng cao có thể sẽ tác động mạnh tới cảnh quan, hệ thống đảo, hang động và đa dạng sinh học của Vịnh mà Việt Nam chưa đủ nhân lực, vật lực để sẵn sàng ứng phó.

Bảng 2. Phân loại danh hiệu biển Việt Nam

Cấp bậc

Danh hiệu

Tổng

Ghi chú

Thế giới

Di sản thế giới

2

Đã công nhận

Khu dự trữ sinh quyển thế giới

6

Đã công nhận

Khu bảo tồn đất ngập nước

1

Đã công nhận

CLB những vịnh đẹp nhất thế giới

3

Đã công nhận

Kỳ quan thiên nhiên của thế giới

1

Đã công nhận

Việt Nam

Di sản quốc gia Việt Nam

1

Đã công nhận

Vườn quốc gia Việt Nam

7

Đã công nhận

Khu bảo tồn thiên nhiên

3

Đã công nhận

Khu bảo tồn san hô

1

Đã công nhận

Khu bảo tồn biển Việt Nam

15

Chờ công nhận

Tổng

10

39

Về văn hóa cộng đồng, một vấn đề mà nhiều du khách quốc tế đã phàn nàn là ý thức bảo vệ môi trường di sản của khách du lịch và của cộng đồng địa phương còn chưa cao, chưa xây dựng được hình ảnh, thương hiệu du lịch Hạ Long hiện đại, văn minh và lịch sự. Vẫn còn hiện tượng người ăn xin đeo bám khách du lịch, ảnh hưởng tới moi trường du lịch của di sản. Việc giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức trong mỗi người dân; sự hạn chế các khu lưu trú nghỉ dưỡng trên các đảo; nỗ lực kiểm soát theo tiêu chuẩn du lịch sinh thái và quy định bảo tồn di sản đối với cả mặt nước vùng đệm của di sản, đang là những vấn đề lớn đặt ra nhiều thách thức với chính quyền địa phương.

Công tác bảo tồn. Nhằm ngăn chặn sự tác động tiêu cực của con người đến thiên nhiên vùng vịnh Hạ Long, chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã cấm các loại xuồng máy cao tốc phục vụ du khách trong khu vực Vịnh để bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học trong vùng Vịnh. Đồng thời, tỉnh Quảng Ninh cũng thực hiện di dời các hộ dân sinh sống trên các vạn chài vào đất liền để bảo vệ môi trường nước của vịnh Hạ Long; cấm bốc dỡ than đá trong khu vực di sản để chống ô nhiễm bụi than và bùn than cho Vịnh theo khuyến cáo của UNESCO. Tại Vịnh, một số người dân đã có ý thức tự nguyện giữ gìn cảnh quan, thông qua việc lập tổ hợp tác tự nguyện thu gom và xử lý rác thải.

Tuy nhiên Vịnh Hạ Long theo (bảng 1) có 5 danh hiệu (1 quốc gia, 4 quốc tế) nên theo quá trình phát triển thì môi trường ở đây cũng đã được cải thiện đáng kể. Quản lý tài nguyên và môi trường ở Vịnh Hạ Long có sự tham gia của cộng đồng địa phương, có sự giám sát của các tổ chức quốc tế và của cơ quan quản lý cấp quốc gia, của phương tiện thông tin đại chúng.

Nhận xét và đề xuất

Tổng các danh hiệu cho tất cả vùng biển Việt Nam là 39 (27 quốc gia, 12 quốc tế) dành cho 26 vùng biển thuộc 17 tỉnh thành phố ven biển Việt Nam, các vùng này có thể gọi là “Các kỳ quan biển Việt Nam” (bảng 2). Ngoài Vịnh Hạ Long có tới 4 danh hiệu, thì còn 8 danh hiệu nữa của các vùng khác là Cát Bà, Xuân Thủy, châu thổ sông Hồng, vịnh Lăng Cô, Cù Lao Chàm, vịnh Nha Trang, Cần Giờ, Phú Quốc. Theo không gian vị trí địa lý, có vùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng có 12 danh hiệu và rất đáng được quy hoạch lại để phục vụ quản lý tài nguyên môi trường biển. Sự tương đồng về cảnh quan địa chất địa mạo, đa dạng sinh học, cũng như những giá trị văn hóa, khảo cổ của toàn vùng, bao gồm không chỉ Vịnh Hạ Long mà còn cả quần đảo Cát Bà và vùng biển đảo vịnh Bái Tử Long khiến những hoạt động du lịch, khai thác hải sản… không còn bó hẹp trong phạm vi vùng Vịnh.

Đề xuất mở rộng ngoại biên của khu vực bảo tồn, không chỉ giới hạn trong diện tích nhỏ hẹp của vùng vịnh Hạ Long hiện nay mà còn bao quát cả vùng biển đảo có những yếu tố đồng dạng, kéo dài từ quần đảo Cát Bà lên sát biên giới Việt - Trung. Với chiều dài khoảng 300 km và chiều rộng khoảng 60 km, toàn bộ khu vực này có thể được nhìn nhận và bảo tồn như một vùng sinh thái đặc biệt về biển của Việt Nam. Khu này có thể gọi là Công viên đại dương hay Công viên biển số 1 của Việt Nam.

Các vùng công viên biển Quốc gia khác có thể là ven biển Huế - Đà Nẵng, Quảng Nam - Quảng Ngãi, Khánh Hòa - Bình Thuận, Cà Mau - Kiên Giang, Quần đảo Trường Sa.

Danh hiệu vùng biển Việt Nam rất đa dạng và phong phú cấp quốc gia và quốc tế. Ảnh hưởng tích cực của các vùng biển có danh hiệu biển tới kinh tế - xã hội và môi trường đại phương. Chưa có cơ quan, tổ chức cấp quốc gia theo dõi, giám sát về danh hiệu biển. Cần lựa chọn tên cho các danh hiệu này, danh hiệu biển Việt Nam, kỳ quan biển Việt Nam; vùng biển đẹp Việt Nam.

Cần có nghiên cứu cơ chế, chính sách, pháp lý về các danh hiệu biển cấp quốc gia, các tác động của danh hiệu biển và các giải pháp hỗ trợ cho địa phương và thành lập một cơ cấu tổ chức thống nhất cấp quốc gia để xác định, công nhận và quản lý các danh hiệu biển trực thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.