Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 08/10/2007 23:32 (GMT+7)

Đánh giá thực trạng, tiềm năng và giải pháp khai thác đá vôi và đất sét phục vụ ngành sản xuất xi măng tại Việt Nam

Trong những năm gần đây với tốc độ phát triển không ngừng của ngành, nguồn nguyên liệu chính để phục vụ sản xuất đang dần trở nên khan hiếm. Do đó việc quy hoạch và có giải pháp hợp lý cho nguồn nguyên liệu đầu vào của ngành công nghiệp xi măng trong giai đoạn hiện nay hết sức quan trọng và có ý nghĩa sống còn của ngành.

Theo điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành công nghiệp xi măng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì đến năm 2010 nhu cầu xi măng là 42,2 đến 51,4 triệu tấn/năm, đến năm 2015 nhu cầu tiêu thụ khoảng 63,0 đến 65,0 triệu tấn xi măng/năm và đến năm 2020 là 68 đến 70 triệu tấn/năm trong khi tổng công suất các nhà máy xi măng hiên có và đang xây dựng khoảng 41,5 triệu tấn/năm.

Như vậy, để đáp ứng mức độ phát triển này thì yêu cầu nguồn nguyên liệu chính để sản xuất xi măng như đá vôi đến năm 2010 cần khoảng 57 triệu tấn/năm, đất sét có thể lên tới 13 triệu tấn/năm, và đến năm 2020 đá vôi cần khoảng 70 triệu tấn/năm, đất sét lên tới 14 triệu tấn/năm (bảng 1).

1. Thực trạng và công nghệ khai thác nguyên liệu để sản xuất xi măng

Nguồn nguyên liệu để sản xuất xi măng ở nước ta dồi dào, có chất lượng khá tốt tạo điều kiện thuận lợi cho ngành công nghiệp xi măng phát triển.

Tuy nhiên sự phân bố các khoáng sàng nguyên liệu không đồng đều, chỉ tập trung ở một vài vùng chủ yếu. Một số mỏ có chất lượng nguyên liệu biến động, điều kiện khai thác khó khăn.

Một số khoáng sàng đá vôi do đặc điểm địa chất thành tạo nhiều hang, động castơ trở thành các danh lam thắng cảnh, một số thì gắn liền với các di tích lịch sử của cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước hoặc nằm trong quy hoạch phòng thủ bảo vệ của Bộ Quốc phòng nên không được phép khai thác.

Thí dụ như trữ lượng đá vôi đã khảo sát tại khu vực Kiên Giang là 429 triệu tấn nhưng có tới 185 triệu tấn không được khai thác vì các lý lo liên quan đến di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và An ninh - Quốc phòng. Một số khoáng sàng nguyên liệu có chất lượng tốt và trữ lượng lớn để sản xuất xi măng nhưng phân bố ở các vùng sâu, vùng xa, do đó việc đầu tư khai thác không đem lại hiệu quả kinh tế.

Mặt khác, công tác điều tra, khảo sát mỏ chưa thực sự được quan tâm đúng mức nên đến nay chưa đánh giá được chính xác chất lượng và giá trị sử dụng đầy đủ các khoáng sàng nguyên liệu. Hơn nữa tại một số địa phương công tác quản lý tài nguyên chưa thực sự chặt chẽ dẫn đến hậu quả của việc khai thác bừa bãi, không có quy hoạch và sử dụng không hợp lý nguyên liệu đủ chất lượng sản xuất xi măng vào các công việc khác như làm vật liệu xây dựng thủy lợi, vật liệu xây dựng giao thông, vôi tôi.v.v.

Hầu hết các mỏ nguyên liệu đang hoạt động phục vụ sản xuất của các nhà máy xi măng hiện nay đều sử dụng công nghệ và thiết bị khai thác tiên tiến và hiện đại (bảng 2). Nhưng một số các mỏ khai thác chỉ đạt 70 – 80% công suất thiết kế. Nguyên nhân do các mỏ này hoạt động phụ thuộc hoàn toàn vào tình hình tiêu thụ xi măng tại các nhà máy hoặc một số mỏ khai thác không theo đúng thiết kế dẫn đến mỏ hoạt động kém hiệu quả.

Căn cứ vào điều kiện phân bố, vận chuyển và khả năng khai thác, hiện cả nước có 8 khu vực có triển vọng phát triển ngành công nghiệp xi măng là: Quảng Ninh, Hải Phòng - Hải Dương, Hòa Bình – Hà Tây – Hà Nam – Ninh Bình - Bắc Thanh Hóa, Nam Thanh Hóa - Nghệ An, Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế, Quảng Nam – Đà Nẵng, Tây Ninh – Bình Phước, Kiên Giang. Những khu vực có triển vọng phát triển thường gắn liền với khả năng tiêu thụ lớn và mạng lưới giao thông phát triển, đặc biệt là giao thông đường thủy.

a. Nguồn nguyên liệu đá vôi

Trong thành phần phối liệu để sản xuất xi măng đá vôi chiếm tỷ trọng khoảng 80%. Theo số liệu Báo cáo kết quả của dự án điều tra lập hệ thống dữ liệu tài nguyên khoáng sản làm nguyên liệu cho sản xuất xi măng và các dự án quy hoạch vật liệu xây dựng trong cả nước của Viện Vật liệu Xây dựng - Bộ Xây dựng thì trong số 190 khoáng sản đá vôi đã được khảo sát thì trữ lượng dự báo khoảng 22,2 tỷ tấn, trữ lượng đá vôi đã được thăm dò cấp A + B + C1 khoảng 3,846 tỷ tấn. Trong đó có 28 khoáng sản đá vôi có quy mô lớn (trữ lượng trên 100 triệu tấn), 19 khoáng sản có quy mô vừa (trữ lượng khoảng 20 đến 100 triệu tấn). Các khoáng sản đá vôi tập trung chủ yếu ở các vùng ít có các hoạt động uốn nếp, đứt gãy cũng như ít có các hoạt động macma xâm nhập và phun trào (bảng 3).

Đa số các khoáng sản đá vôi đã được thăm dò đều được khai thác triệt để và có hiệu quả. Song tình hình khai thác tự pháp và không đảm bảo các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật còn khá nhiều. Điển hình là tình trạng các địa phương tự ý khai thác không theo quy hoạch làm phá vỡ quy hoặch hoặc sử dụng nguồn nguyên liệu đá vôi không có hiệu quả như đá vôi có chất lượng tốt để sản xuất xi măng đã bị sử dụng vào các mục đích khác. Đặc biệt và phổ biến là các mỏ có công suất vừa và nhỏ khai thác dựa theo lợi ích trước mắt, khai thác không theo quy hoạch, không đúng thiết kế, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, mất an toàn và tổn thất nguyên liệu lớn. Hơn nữa công tác quản lý nhà nước về nguồn tài nguyên tại địa phương chưa thực sự nghiêm túc, nhiều mỏ địa phương khai thác không có giấy phép, không có thiết kế.

b. Nguồn nguyên liệu đất sét

Ngoài đá vôi thì đất sét cũng là một loại nguyên liệu chính trong sản xuất xi măng, trong thành phần phối liệu chiếm tỷ trọng khoảng 20%.

Theo số liệu báo cáo kết quả của dự án điều tra lập hệ thống dữ liệu tài nguyên khoáng sản làm nguyên liệu cho sản xuất xi măng và các dự án quy hoạch vật liệu xây dựng trong cả nước của Viện Vật liệu Xây dựng - Bộ Xây dựng thì trong số 102 khoáng sản được khảo sát có trữ lượng dự báo khoảng 2,932 tỷ tấn. Trong đó trữ lượng cấp A + B + C1 chiếm khoảng 1,56 tỷ tấn.

Diện phân bố các khoáng sàng sét được tập trung chủ yếu ở các vùng Bắc Trung Bộ. Đồng bằng sông Hồng, Đông Bắc và Tây Bắc.

Các khoáng sàng sét thường được tạo thành đi kèm với các mỏ đá, đây chính là một yếu tố địa chất đặc biệt góp phần cho các dự án xi măng phát triển thuận lợi.

Các mỏ sét khu vực miền Bắc có điều kiện địa hình dạng đồi, nguyên liệu phân bố trên mức thoát nước tự chảy và chủ yếu áp dụng hệ thống khai thác khấu theo lớp bằng và xúc bốc trực tiếp.

Các mỏ sét khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đều có điều kiện phân bố nguyên liệu dưới mức thoát nước tự chảy và sét nằm xen kẽ giữa đất phủ, laterit và đá vôi nên công nghệ khai thác có thể vận tải trực tiếp tại tầng khai thác hoặc sử dụng các loại công nghệ khai thác bằng máy xúc nhều gàu, xúc bốc theo từng lớp, vận tải bằng băng tải.

2. Giải pháp cho nguồn nguyên liệu

Những số lượng nêu trên cho chúng ta thấy nguồn nguyên liệu đầu vào cho xi măng tuy có dồi dào nhưng không phải vô tận. Vì sự phát triển bền vững của đất nước, vì các thế hệ mai sau, việc sử dụng tiết kiệm và hợp lý tài nguyên lòng đất là trách nhiệm của mọi người, là quốc sách của mọi đất nước.

Vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý hiện nay là mặc dù nguồn tài nguyên tại các vùng đã quy hoạch trữ lượng còn dồi dào nhưng vẫn phải áp dụng mọi biện pháp để nâng cao hệ số thu hồi tài nguyên trong quá trình khai thác, kể cả việc phải tăng chi phí khai thác để tận thu triệt để tài nguyên lòng đất.

Ngay hiện nay một số nhà máy xi măng mặc dù nguồn tài nguyên vẫn còn đủ cho nhu cầu sản xuất trong nhiều năm tới, nhưng ngay bây giờ đã bắt đầu khảo sát thêm nguồn tài nguyên dự trữ cho tương lai, như các nhà máy xi măng Hoàng Thạch, xi măng Hà Tiên 2 và một số các dự án xi măng mới như xi măng Sông Thao, xi măng Long Thọ, xi măng clinker Hà Tiên.v.v.

Tuy đã khảo sát các mỏ nguyên liệu hiện có nhưng vẫn đặt vấn đề khảo sát thăm dò mở rộng phần tài nguyên dưới mức thoát nước tự chảy để có quy hoạch lâu dài cho sự phát triển của nhà máy trong tương lai.

Khai thác nguyên liệu đá vôi, đất sét dưới mức thoát nớc tự chảy là một trong những phương pháp khai thác nhằm tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu. So với các phương pháp khai thác thông thường (đá vôi, đất sét nổi) thì phương pháp khai thác dưới mức thoát nước tự chảy có những yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật cao hơn, vận hành khó khăn hơn. Trong công nghệ khai thác phải xử lý các vấn đề kỹ thuật phức tạp hơn, đặc biệt là các vấn đề địa chất thủy văn, bơm thoát nước mỏ.

3. Kết luận

Vấn đề nguồn nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp xi măng sẽ ngày càng khó khăn trong một tương lai không xa. Việc đánh giá đầy đủ nguồn tài nguyên cũng như sử dụng có hiệu quả và hợp lý chúng là hết sức cần thiết.

Nâng cao trình độ quản lý ngành, nâng cao năng lực của các đơn vị tư vấn quy hoạch thiết kế mỏ nguyên liệu của các đơn vị khai thác và sử dụng nguyên liệu là một trong những công tác cần được chú trọng hàng đầu.

Cơ quan quản lý nhà nước về xi măng cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các cơ quan quản lý môi trường, văn hóa thông tin, quốc phòng, giao thông để có quy hoạch chi tiết các mỏ nguyên liệu nhằm sử dụng triệt để và đúng mục đích nguồn tài nguyên mà vẫn giữ được cảnh quan, môi trường và an ninh quốc gia.

Giải pháp để tận thu tối đa tài nguyên lòng đất là: áp dụng công nghệ khai thác chọn lọc, tiến hành khai thác phần tài nguyên dưới mức thoát nước tự chảy của các khoáng sản đá vôi và sét, tiến hành quy hoạch tổng thể các vùng khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên trên cơ sở chất lượng khoáng sản và đối tượng có nhu cầu.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.