Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 14/10/2008 23:54 (GMT+7)

Đằng sau cuộc cách mạng chăn nuôi

Hơn thế nữa, sự thay đổi về cấu trúc đi kèm theo việc tăng cường sử dụng lương thực làm thức ăn chăn nuôi, dấy lên những vấn đề về an ninh lương thực và nghèo đói. Công nghiệp hoá nếu quản lý kém sẽ huỷ hoại môi trường. Bài viết này trình bày tỉ mỉ từng yếu tố và nêu vấn đề để các nhà quyết định chính sách phải suy tính khi hưởng ứng cuộc “cách mạng chăn nuôi”.

Lan toả các cửa hàng bán lẻ cỡ lớn(siêu thị)

Thu nhập ngày càng tăng và tiếp tục đô thị hoá ở các nước đang phát triển dẫn đến dân chúng Âu hoá bữa ăn và thay đổi hệ thống cung ứng thực phẩm. Việc tăng số lượng khách hàng giàu có ở đô thị các nước đang phát triển gắn liền với việc xuất hiện và mở rộng nhiều cửa hàng bán lẻ cỡ lớn, nhất là các siêu thị để đáp ứng và có thể vừa để hướng dẫn cho các yêu cầu về tiện lợi, đa dạng và bảo đảm chất lượng. Đối tượng chính của siêu thị ở các nước đang phát triển là tầng lớp trung lưu thành phố, nhưng do cạnh tranh giữa các đối thủ đồng cấp mà cùng một mặt hàng nhưng họ hạ giá bán. Nhờ vậy, những hộ thu nhập thấp có cơ hội mở rộng sức mua túi tiền của họ dành cho thực phẩm.

Sự thâm nhập một cách nhanh chóng với quy mô và tốc độ khác nhau của các siêu thị là một hiện tượng mới, có thật, nhất là 5 - 10 năm gầy đây ở thế giới các nước đang phát triển. Theo Reardon và Timmer (2005) có 3 làn sóng lan truyền siêu thị xẩy ra kế hoạch tiếp nhận. Làn sóng thứ nhất bao trùm phần lớn các nước Mỹ La Tinh và Đông Á (trừ Trung Quốc), phía Bắc Trung Âu và Nam Phi. Ở các nước này, thời kỳ những năm 1970 - 1980 đã từng có một số siêu thị, nhưng đó là những hãng địa phương với vốn đầu tư trong nước, chọn những địa điểm thích hợp ở các đô thị chính để cung ứng thực phẩm cho lớp người giàu có. Trước những năm 1990 các siêu thị này chỉ mới dịch vụ được 5 - 10% thực phẩm. Nhưng từ năm 2000 các siêu thị hiện đại đã nắm được 50 - 60% hàng thực phẩm bán lẻ. Làn sóng siêu thị lần thứ hai xuất hiện vào giữa những năm 1990, bao trùm một phần Trung Mỹ và Mehico, Nam Á và các nước phía Nam Trung Âu, trước những năm 2000 các siêu thị đã nắm 30 - 50% hàng thực phẩm bán lẻ: Chỉ sau những năm 1990 làn sóng siêu thị thứ ba mới cất cánh. Làn sóng này phủ các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và một vài nước Nam Mỹ, Nam Á và một số nước Châu Phi. Giữa những năm 2000 thị phần thực phẩm bán lẻ của các siêu thị đã được 10 - 20%.

Ở các miền khác nhau, tốc độ chuyển đổi không giống nhau. Nhìn chung, sự phổ cập xuất hiện hơi sớm và nay đã đi sâu vào châu Mỹ La Tinh, tiếp đó là Đông Á (trừ Trung Quốc) rồi đến Đông Âu. Ngoài qui mô và tốc độ phát triển của nền kinh tế, dân thành phố và tầng lớp trung lưu thì sự phát triển của làn sóng trên nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào chính sách thương mại và tự do bán lẻ của từng nước cũng như phụ thuộc vào đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI). Việc chậm thâm nhập vào Trung Quốc và Ấn Độ liên quan đến dư âm chính sách hạn chế đầu tư trực tiếp nước ngoài vào chuỗi buôn bán lẻ thực phẩm vốn đã có trước những năm 1990.

Đứng trên các siêu thị là các tập đoàn kinh doanh nông sản siêu quốc gia. Việc tự do hoá hoàn toàn hoặc tự do hoá từng phần ngành bán lẻ thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài nhảy vào lĩnh vực chế biến và phân phối thực phẩm. Mặc dù đã gia tăng tự do hoá thương mại về nhiều mặt, giảm các hạn chế về số lượng và giảm thuế, đặt ra các luật lệ, tiêu chuẩn về chất lượng, về an toàn thực phẩm (tiêu chuẩn kiểm dịch động thực vật, codex thực phẩm, tiêu chuẩn riêng), việc thâm nhập đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đầu những năm 1990 vào các vùng đang phát triển đã làm cho tình hình thâu tóm các siêu thị trở nên quyết liệt hơn.

Việc đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông sản nhiều hay ít, tuỳ thuộc vào mức độ gia tăng chung của trào lưu đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cũng như làn sóng phổ cập siêu thị lần thứ nhất, những vùng chính triển khai đầu tư trực tiếp nước ngoài là châu Mỹ La Tinh và Đông Á. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Ấn Độ và Châu Phi cũng chậm hơn giống như làn sóng phổ cập các siêu thị.

Thị trường của các cửa hàng bán lẻ đồ sộ này là khách hàng ở các thành phố bản địa, yêu cầu của họ về thực phẩm tươi sống và thực phẩm chế biến cao cấp đang ngày càng tăng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phép các công ty bán lẻ siêu quốc gia mang vào nước sở tại công nghệ chế biến hiện đại, kiểm tra chất lượng, nhãn hiệu, bao gói cũng như cơ sở hậu cần có đầy đủ hạ tầng về tiếp nhận và phân phối. Từ những nguồn đầu tư này đã xác lập được kinh tế quy mô và năng lực cạnh tranh giá cả, chất lượng trên thị trường thế giới cũng như thị trường trong nước (Berdegu, Vandekop - 2005).

Việc xuất hiện siêu hị ở các nước đang phát triển đã làm thay đổi cung cách thu nhập, kiểm tra chế biến, bao gói và phân phối sản phẩm sữa thịt cho khách hàng. Đây là sự thay đổi gây tác động sâu sắc đối với chăn nuôi và người sản xuất sữa, đặc biệt là những ai có thể và không thể tham gia luồng cung ứng. Có thể thấy sự chia cắt thị trường thành từng loại, thị trường chính thống và không chínht hống, thị trường “ướt” bán thịt tươi sống và các quầy siêu thị bán thị chế biến, thịt đông lạnh và thịt hộp. Ý nghĩa tương đối của từng thị trường gắn liền với trình độ phát triển kinh tế, gắn chặt với sức mua của hộ và cá nhân tuỳ theo yêu cầu muốn nhàn nhã, tuỳ theo sở thích của họ về hình thức và cấu tượng của loại thịt và tuỳ khái niệm của họ về độ an toàn thực phẩm.

Ở các nước đang phát triển tuy hệ chính thống chuỗi cung ứng sản phẩm chăn nuôi và sữa tươi còn chưa hình thành, thị trường thịt tươi sống còn chiếm tỷ lệ áp đảo, nhưng với sự lớn mạnh về kinh tế, ngành bán lẻ quy mô lớn đang tăng dần. Ở những vùng đang tổ chức lại thị trường nông sản và công nghiệp sôi động của Châu Mỹ La Tinh, Đông Á, và Cận đông, các cửa hàng bán lẻ cỡ lớn phát triển còn các chợ bán buôn truyền thống thì teo dần, hoạt động kinh doanh bị thu nhỏ.

Ở những vùng có nền kinh tế tương đối chậm phát triển như vùng Cận Sahara của Châu Phi thì thị trường không chính thống và chợ truyền thống vẫn là thị trường chính, sản xuất tự túc còn rất quan trọng. Ví dụ ở Ethiopia chỉ 20% sản lượng sữa tươi đưa ra bán ngoài thị trường. Ở thủ đô Addis Ababa , tuy đã có thị trường giao dịch, nhưng thị phần của thị trường không chính thống về sữa và bơ vẫn chiếm 70%. Ngay như ở Kenya, nơi mà Chính phủ đã dồn đầu tư cho các cơ sở chế biến sữa hiện đại, thị trường sữa chính thống đã thất bại còn chuỗi thị trường không chính thống trong những năm 1980 nắm 70% thị phần sữa, đến năm 2003 tăng lên 90%, chủ yếu dựa vào khai thác khẩu vị và sở thích sản phẩm sữa truyền thống.

Trừ Nam Phi, nơi mà các siêu thị đã có lực lượng khá mạnh, ở Kenya, Zambia và Zimbabwe siêu thị phát triển có mức độ, còn vùng Cận Sahara chưa trải qua sự cất cánh vững chắc của làn sóng siêu thị. Ở các nước rất nghèo như Ethiopia, Sudan, Burkina Fasovà Mali chưa ai thấy dấu hiệu xuất hiện các siêu thị.

Siêu thị đòi hỏi phải có số lượng lớn khách hàng thành phố, sức mua, cơ sở hạ tầng từ trang trại đến thị trường đã được nâng cấp, có trào lưu đầu tư trực tiếp nước ngoài và chính trị ổn định Reardon, Timmer - 2005.

Sự dẻo dai của thị trường không chính thống cung cấp địa bàn cho người chăn nuôi nhỏ lẻ phục vụ thị trường nông thôn và thành phố các sản phẩm truyền thống có nhiều khách hàng ưa chuộng. Tuy nhiên, không có gì bảo đảm rằng loại thị trường này sẽ còn là cơ hội hoạt động của hộ kinh tế cá thể về lâu về dài. Tuy còn có các mô hình tiêu dùng và thói quen mang tính truyền thống, nhưng cũng không thể không nghĩ rằng sức mạnh tổ chức của chuỗi thị trường hiện đại sẽ vượt qua bức tường rào cản tưởng chừng như không bao giờ thực hiện được.

Sự điều phối và liên kết trong chuỗi thực phẩm

Sự thâm nhập của các tổ chức siêu quốc gia vào lĩnh vực nông sản thực phẩm, đặc biệt vào hệ thống bán lẻ và chế biến ở các nước đang phát triển, đã làm thay đổi cung cách thu mua nông sản, chế biến thành nhiều loại sản phẩm và phân phối đến tay người tiêu dùng. Các đơn vị phân phối và bán lẻ mới này, giữa họ cạnh tranh với nhau về thị phần, đồng thời họ cũng phải cạnh tranh cả với các nhà cung cấp và bán buôn truyền thống ở các nước sở tại, cho nên họ phải đưa ra giá cả cạnh tranh. Họ chỉ có thể duy trì và mở rộng thị phần bằng cách giảm giá.

Đồng thời họ phải phấn đấu ổn định chất lượng sản phẩm theo yêu cầu thị trường chính của họ. Khái niệm chất lượng “theo quan điểm các nhà sản xuất là phức tạp, các thuộc tính của nó biến triển theo thời gian. Định nghĩa của nó cũng thay đổi tuỳ theo chiến lược về văn hoá; khái niệm này bao gồm an toàn thực phẩm, dinh dưỡng và những thuộc tính khác nhau của sản phẩm thương mại. Các cửa hàng bán lẻ quy mô lớn yêu cầu người cung cấp/ người sản xuất cung cấp cho họ hàng nông nghiệp luôn ổn định về số lượng và chất lượng.

Sự điều phối theo chiều dọc tạo cơ hội kiểm soát được mặt sản xuất, giao dịch, đồng thời đạt được tiêu chuẩn cao về an toàn thực phẩm. Nó đòi hỏi thay đổi tổ chức và thể chế trong mối quan hệ giữa ngành sản xuất ban đầu và người chế biến nông sản hoặc siêu thị phân phối, đưa ra hoặc những hình thức xử lý công việc theo cách điều phối theo chiều dọc (hợp đồng với người cung ứng hoặc người chế biến) hoặc hình thức cao, liên kết trong hệ thống khép kín (các đơn vị trong chuỗi thực phẩm trực thuộc 1 công ty). Ở các nước đang phát triển, các cửa hàng bán lẻ cỡ lớn thường hay tổ chức theo hướng điều phối theo chiêề dọc.

Sản xuất và cung ứng gà thương phẩm của Thái Lan năm 2003

Các nghiên cứu (Weatherspoon và Reardon - 2003) cho biết, hệ thống tìm nguồn hàng của siêu thị yêu cầu thống nhất nguồn mua, dành ưu tiên cho những người bán sỉ chuyên nghiệp, khắt khe vềtiêu chuẩn chất lượng và an toàn thực phẩm. Việc nêu rõ ràng tiêu chuẩn chất lượng và thoả thuận theo hợp đồng sản xuất làm giảm phí giao dịch và những thông tin ngược chiều, nhưng đòi hỏi phải đầutư cơ sở vật chất và năng lực con người. Thông qua điều phối theo chiều dọc và chỉ huy ở mọi bước trong dây chuyền, có thể tổ chức sản xuất vừa hiệu quả vừa bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng. Điều phốitheo chiều dọc không những có lợi về mặt quy mô mà còn an toàn về lãi suất vì sở hữu được thị trường, bảo đảm chất lượng va an toàn vệ sinh thực phẩm, nhờ kiểm tra được toàn bộ các khâu về nghiệp vụvà công nghệ. Các hãng siêu quốc gia kếch xù có uy thế, thực hiện mục tiêu và quy mô kinh tế của họ thông qua đầu tư ra nước ngoài với các mức độ khác nhau.

Chuyển theo hướng phi thị trường giao dịch (hợp đồng trang trại, người cung ứng hàng hoá được chỉ định), trong khuôn khổ điều phối theo chiều dọc đã gây tác động sâu sắc về kinh tế xã hội cho người chăn nuôi ở nông thôn và ngoại thành ở các nước đang phát triển. Để đáp ứng yêu cầu của nhà chế biến nông sản người sản xuất nguyên liệu phải đầu tư và chấp thuận những thủ tục mới. Trong bối cảnh này người sản xuất vừa có thời cơ vừa có thách thức. Nơi có nhiều người sản xuất quy mô lớn để lựa chọn, nếu thấy khả năng đầu tư vào đó có lãi thì những người chế biến quy mô lớn sẽ không mấy hứng thú đầu tư cho người sản xuất nhỏ lẻ. Trong trường hợp này người sản xuất nhỏ phải tự mình đầu tư. Nếu họ không có khả năng đầu tư, họ sẽ bị gạt ra khỏi cái thòng lọng của hệ thống thị trường, như trường hợp đã xảy ra với người chăn nuôi bò sữa quy mô nhỏ ở Braxin (Farina - 2002), ở Achentina (Gutman - 2002) và ở Chile (Dirvin 2001). Mở rộng trào lưu phi thị trường giao dịch, không phải trong tất cả mọi trường hợp người sản xuất nhỏ cũng đều tự động bị xoá sổ. Ở những nơi ít có khả năng lựa chọn được những đơn vị cung ứng hàng cỡ lớn và thấy người sản xuất quy mô nhỏ có khả năng đáp ứng được yêu cầu chất lượng sản phẩm, những nhà chế biến nông sản thấy có thể có cách làm có lợi thì họ ký hợp đồng liên kết tài chính và hỗ trợ kỹ thuật, hoàn trả vốn khi có sản phẩm như trường hợp đã xảy ra đối với các trại chăn nuôi bò sữa quy mô nhỏ ở Balan (Draes và Swinnen, 2004).

Trong lúc nhiều chủ trang trại nhận ra cơ hội mà nền công nghiệp hướng về người tiêu dùng gợi mở, thì đối với chủ trang trại quy mô nhỏ ở các nước đang phát triển vẫn có nhiều thách thức lớn. Phần lớn các trang trại quy mô nhỏ gặp khó khăn về tổ chức, quản lý và thực hiện tiêu chuẩn sản phẩm. Vả lại, khả năng mà hệ thống thị trường bán buôn truyền thống đáp ứng được yêu cầu của hệ thống cung ứng hiện đại không cao. Ví dụ, Công ty Ahold ở Thái Lan không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu cung cấp rau quả tươi cho những cửa hàng bán lẻ quy mô lớn (Bosselie 2002). Đặc điểm thị trường hàng tươi sống ở đây là cơ sở hạ tầng và tổ chức nghèo nàn. Tai hoạ và bấp bênh là rất cao. Điều ày chỉ có thể khắc phục bằng cách đầu tư tốn kém vào một hệ thống khác.

Trong điều kiện thị trường phải bảo đảm chất lượng sản phẩm mà đầu ra đầy rủi ro và bấp bênh thì liên kết theo chiều dọc là chiến lược hay nhất để chống đỡ với những cú sốc về giá. Đây cũng là con đường hỗ trợ kỹ thuật phổ biến công nghệ mới có hiệu quả đối với người sản xuất. Ví dụ, tập đoàn CP đã tuyên truyền hệ thống chuồng và thu gom phân 5 năm vừa qua ở Thái Lan đã giúp các trại hợp đồng có những thay đổi quan trọng.

Những thách thức trên, người chăn nuôi quy mô nhỏ không thể vượt qua được. Cách giải quyết tốt hơn là tổ chức cho họ liên kết với những cơ sở giao dịch thương mại tư nhân mạnh và có tiếng. Việc này đòi hòi phải có nhiều biện pháp cải tiến kỹ thuật truyền thống với các chương trình và chiến lược chuyển giao khéo léo của chính phủ cho người sản xuất quy mô nhỏ.

Trong trường hợp kinh doanh lấy tiêu chí khối lượng và chất lượng làm trọng thì điều hấp dẫn là tìm ra hình thức tổ chức giảm được phí giao dịch. Ngay cả trong kinh doanh truyền thống thì việc đó là khó đối với người sản xuất quy mô nhỏ vì lượng hàng thương mại sản xuất ra không nhiều, những nơi xa thì thiếu lực lượng và cơ sở hạ tầng. Phí giao dịch cũng sẽ cao ở những nơi mà người sản xuất thiếu năng lực hợp đồng hoặc tiếp cận với thông tin thị trường, chủ yếu vẫn lệ thuộc vào người môi giới. Hơn thế nữa, ít có điều kiện thành lập hiệp hội hoặc những hình thức hợp tác khác của người sản xuất cũng làm cho các hộ sản xuất nhỏ lẻ khó giảm được phí giao dịch.

Hiệu quả tổng hợp của lợi nhuận do liên kết theo chiều dọc để giảm phí giao dịch cộng với chế độ thuế ưu đãi là điều bất lợi lớn cho độc lập và người sản xuất quy mô nhỏ.

(còn tiếp)

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội IX Liên hiệp Hội Việt Nam
Sáng 12-8, tại Hà Nội, Đoàn Chủ tịch và Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ 19 và Hội nghị Hội đồng Trung ương lần thứ 13 khóa VIII dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến, nhằm tập trung rà soát, thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031
Quảng Trị: Tập huấn cập nhật kiến thức chăm sóc người bệnh
Ngày 11/8, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) tỉnh phối hợp với Hội Y học tỉnh tổ chức tập huấn “Cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh”, nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn và y khoa mới, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh cho đội ngũ điều dưỡng.
Đại hội lần thứ nhất Liên hiệp Hội Việt Nam – Dấu mốc khai sinh mái nhà chung của trí thức khoa học và công nghệ
Ngày 26/3/1983, tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ chức. Từ dấu mốc lịch sử ấy, một tổ chức chung của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam chính thức hình thành, mở ra hành trình tập hợp, đoàn kết và phát huy trí tuệ của các nhà khoa học vì sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Tạo động lực phát triển, đưa ngành công nghệ sinh học Việt Nam lên tầm cao mới
Hội nghị Khoa học toàn quốc về Công nghệ sinh học 2026, diễn ra trong hai ngày 7 và 8/8 tại Đại học Đông Á, Đà Nẵng, không chỉ là sự kiện học thuật mà còn là một dấu mốc chiến lược, điểm hội tụ trí tuệ nhằm định hình lại quỹ đạo phát triển của ngành công nghệ sinh học Việt Nam...
Nghệ An: Khai mạc vòng chung kết Cuộc thi sáng tạo dành cho thanh, thiếu niên, nhi đồng
Sáng 7/8, Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, Tỉnh đoàn và trường Cao đẳng công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc tổ chức khai mạc vòng chung kết Cuộc thi sáng tạo dành cho thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh năm 2026.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long
Ngày 7/8, tại Vĩnh Long, GS.TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam dự và phát biểu tại Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. Đây là Đại hội đầu tiên sau hợp nhất Liên hiệp Hội ba tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Vĩnh Long, mở ra một giai đoạn phát triển mới của đội ngũ trí thức KH&CN trên địa bàn tỉnh.
Thống nhất quy định để doanh nghiệp không phải khai báo nhiều lần
Sáng 7/8, Tổ 15 (gồm Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ, TP. Đà Nẵng) thảo luận về: dự án Luật Phát triển đô thị; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.