Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 14/09/2007 00:05 (GMT+7)

Cổng nhà ở châu thổ Bắc Bộ

Cổng là yếu tố kiến trúc linh hoạt của ngôi nhà, có thể nó được xây dựng cùng hướng với gian chính, nhưng cũng có khi được làm lệch hướng, ngược hướng với gian chính. Điều này có thể lý giải, cổng nhà thông thường được mở trực tiếp ra đường làng, ngõ hoặc xóm... tiện cho việc đi lại, trong khi hướng nhà có thể vẫn được đặt theo tuổi của gia chủ cho hợp với phong thủy. Một lý do khác cũng không kém phần quan trọng trong quan niệm kết cấu kiến trúc giữa cửa, cổng nhà của người Việt, thường thì chúng được tạo so le nhau và tránh tạo thành một trục thẳng. Nếu tạo thành một trục thẳng do thế đất bắt buộc, người Việt thường làm một ngọn giả sơn hay non bộ để trấn trước cửa nhà. Một tấm bình phong bằng gạch xây được trang trí rất đẹp án ngữ sau cổng nhà, khách đến phải đi sang hai bên để vào trong sân trước khi nhập vào gian chính của ngôi nhà. Với quan niệm, bên trong không bị “trôi” mất lộc ra ngoài, người ngoài không thể “nhòm ngó” vào chuyện trong nhà, bên cạnh đó còn tránh được tà ma từ bên ngoài xâm nhập.

Hệ thống cổng làng, xóm, nhà không chỉ có ý nghĩa phân định ranh giới về lãnh thổ mà còn phân định ranh giới văn hóa. Nếu như cổng làng là ranh giới cuộc sống giữa làng này với làng khác (đôi khi còn là ranh giới đối lập giữa làng xã nông thôn phi quan phương với triều đình quan phương nữa) và nó thể hiện lối sống mang tính công cộng, thì cổng nhà là phân định giữa văn hóa gia đình này với gia đình khác, giữa gia đình (cá nhân) với làng xã, cộng đồng (tập thể). Nói cách khác đó là phân biệt giữa lối sống gia đình mang tinh thần hướng nội, phi cộng đồng (đóng) với lối sống làng xã mang tinh thần hướng ngoại, cộng đồng (mở) trong môi trường văn hóa làng nói chung khép kín có xu hướng tự trị.

Cổng nhà ở Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định hiện còn thấy được chủ yếu có niên đại vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Bên cạnh một vài yếu tố truyền thống, đã có sự hòa nhập của kiến trúc Pháp. Những chiếc cổng cho đến nay đã trải qua rất nhiều lần sửa chữa, tu bổ nhưng vẫn giữ được những dấu ấn và phong cách của một giai đoạn nhất định. Bản thân mỗi chiếc cổng nhà ở Hành Thiện đều gắn liền với cuộc đời của gia chủ, sự hưng vong, thịnh suy vẫn được dân làng kể như những câu chuyện thường nhật mà ai cũng biết. Nhiều chiếc đã để lộ những viên gạch nâu đỏ, màu xám xịt của rêu phong, những mảng vữa bị bong tróc loang lổ bám đầy dương xỉ và cỏ dại.

Về kết cấu kiến trúc, cổng nhà ở Hành Thiện thường được làm dưới dạng nhà hộp, có hai cửa vòm tạo thành một trục thẳng - một mở ra ngoài, một mở vào trong sân. Phần mở ra ngoài có cánh được làm bằng gỗ, đóng mở hướng vào trong lòng cổng. Cánh được làm dưới dạng trục xoay giống với cánh cửa của nhà cổ truyền, được đỡ bởi hai khối đá dưới dạng cối tròn, chôn cố định vào trong tường gạch hoặc là một thanh gỗ lớn chạy ngang trên mép trần của cổng. Thường thì, đầu trên của cánh để cố định, đầu dưới để khá tự do - lâu ngày nó tạo thành một lỗ xoay trên nền, tiện cho việc tháo lắp. Cũng có khi cả hai đầu đều được làm cố định dưới dạng trục xoay, kiểu này ít được tháo lắp, nó cũng phản ánh tâm lý không thích sự thay đổi của gia chủ. Phía mép dưới của cánh cổng được thiết kế hai chiếc bánh xe ăn trục với thân của bản lề, giúp đóng mở được dễ dàng (công năng sử dụng) và tránh được tình trạng xệ cổng (công năng kỹ thuật). Ngày nay, nhiều gia đình không còn dùng cánh cổng kiểu này nữa mà họ thường chôn thẳng trục xoay vào tường, nhiều nhà không lắp cánh lên như trước nữa nhưng những mẩu đá, lỗ cố định trục xoay, vết bánh xe hình vòng cung thì vẫn còn. Đó cũng là dấu hiệu để có thể nhận biết được phần nào về diện mạo kiểu dáng của cổng cũng như cánh cổng.

Toàn bộ khối cổng nhà hình hộp được chia làm 4 mặt: trước, sau, bên trái, bên phải. Mặt trước là phần thể hiện công phu nhất, mặt sau được trang trí ít hơn. Hai mặt bên thường để trơn nếu tường nhà cao che khuất, nhưng cũng có nhiều mặt bên của cổng được trang trí dưới dạng cửa sổ vòm với những đường phào chỉ lượn đều, trên cùng có đường gờ nổi rõ, nhấn mạnh như phân chia mảng miếng trên tường. Ít ra những chiếc cổng được thiết kế thêm cửa cũng tạo hiệu quả nhất định cho kiểu cách nghệ thuật kiến trúc, hơn nữa nó còn lấy được ánh sáng cho không gian bên trong lòng cổng.

Có lẽ phần được trang trí nhiều và công phu nhất là mặt trước của cổng. Nó có thể được coi là một phần bộ mặt của kiến trúc trong không gian xét về ý nghĩa xây dựng, ngoài ra đó cũng là diện mạo của gia đình xét về khía cạnh văn hóa. Cổng giúp khách tìm đúng địa chỉ người mình cần gặp, giúp gia chủ chỉ dẫn cho khách, giúp bà con lối xóm mô tả cho khách hỏi thăm... Những dấu ấn, thông tin nhận biết của cổng đã trở nên quan trọng trong cuộc sống hằng ngày đối với mỗi con người.

Phần mặt tiền cũng giống như các mặt khác được chia làm 3 phần, phần trán được coi là thể hiện sự bề thế và quy mô của chiếc cổng vì vậy nó được trang trí rất tỉ mỉ. Thường thì đồ án trang trí được thể hiện theo trục ngang, với phần giữa nhô cao dưới dạng cuốn thư hoặc là một khối chữ nhật lớn, bên trong chạm hoa văn hoặc hình cuốn thư. Hai bên được làm thấp hơn dưới dạng trụ tròn hoặc vuông, trên đầu trụ là các đấu vuông thót đáy cũng có khi là các đấu tròn được chạm tạc giống hình quả bí đỏ. Các mặt còn lại được trang trí ít hơn nhưng nó cũng được tạo thành các ô hoặc dưới dạng lan can nhỏ ăn liền với các trụ ở bốn góc, một vài kiểu dáng khác đơn giản hơn có phần trán để trống các mặt còn lại. Phần trán cổng được ngăn cách với thân cổng bởi một hệ thống chỉ phào lớn, đôi lúc lại là những đường đi nhỏ dưới dạng ban công. Phần thân của cổng thường để dưới dạng những khối lớn, chắc khoẻ, ít đường nét hoa văn. Nó dường như đối lập với phần trán cổng, tạo thành một chỉnh thể đối xứng hết sức quan trọng trong kỹ thuật cũng như thẩm mỹ kiến trúc. Những khối lớn, ít rườm rà tạo một thế vững chắc, khoẻ khoắn có phần mạnh mẽ làm nền cho những họa tiết hoa văn sinh động. Bên cạnh những khối vuông hay chữ nhật ấy, vòm cổng hình chữ U ngược là một điểm nhấn quan trọng vừa phá đi đường nét cứng nhắc vừa xử lý được trọng lực của hệ thống trán và mái cổng.

Ngoài ra, nhiều chiếc cổng khác lại được bổ trụ từ mặt đất lên đến đỉnh, đây là kết cấu chịu lực chính cho toàn bộ đơn nguyên kiến trúc và được chia ra thành các phần rõ rệt. Việc chia phần này, một mặt tạo nên thế vững chãi cho kiến trúc, mặt khác phá đi sự thô cứng, cục mịch của trụ khối. Phần đế của trụ khối được làm loe ra bởi các đấu kê giật cấp có kẻ một vài đường gờ mảnh; phần thân được để nhẵn, đôi khi có thêm một mảng vữa đắp nổi tạo nên một mảng trắng nằm dọc như đôi câu đối; phần đầu là những chiếc đấu vuông thót đáy đỡ lấy toàn bộ phần trán và mái cổng. Đôi khi, những chiếc trụ lại chạy thẳng lên làm chỗ gá mộng cho trán và mái cổng, đối với trường hợp này, phần đầu trên của trụ khối lại được thiết kế tỉ mỉ hơn. Người ta làm thành các ô học hình khối chữ nhật nằm dọc, với những chiếc cửa giả để trống, trông chúng có dáng dấp của những chiếc đèn đá cổ. Bên trên những ô học là những đấu vuông thót đáy cùng với các đường gờ giật cấp dần lên phía trên.

Khác với ở Hành Thiện ( Nam Định) - một làng không chỉ làm ăn kinh tế thuần túy (thường gọi là làng buôn) mà còn là một làng khoa bảng với nhiều người đỗ đạt và trở thành quan chức nhà nước... (điều đó cũng phản ánh năng lực kinh tế của từng vùng quê ở châu thổ Bắc Bộ), cổng nhà một số làng ở Hà Tây không quy tụ trong một đơn vị hành chính cụ thể mà chủ yếu nằm rải rác trong các làng và trải dài trên địa bàn của nhiều huyện với nhiều phong cách, kiểu dáng kiến trúc khác nhau. Tuy nhiên, ở làng Mông Phụ (Đường Lâm) còn giữ được nhiều nhà cổ với những chiếc cổng có phong cách giống nhau hoặc được làm theo lối xưa, trông khá hấp dẫn.

Về chất liệu, cổng nhà Hà Tây thường sử dụng gạch đá ong là chính bên cạnh xi măng, vôi vữa, gạch ngói, tre, gỗ, đá... cho các kết cấu kiến trúc. Gạch đá ong được người dân khai thác tại chỗ, “có tính năng mềm, dễ tạo dáng, có khả năng chống chọi với thiên nhiên, dùng để xây móng đình, làm tường nhà... khi còn ở dưới đất, đá mềm có thể dùng mai xắn ra, gặp không khí nó trở nên rắn chắc” (1). Việc sử dụng chất liệu đối với các công trình kiến trúc không chỉ phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của gia đình, mà còn phụ thuộc vào chính điều kiện tự nhiên của địa phương nữa.

Chất liệu gạch đá ong đã làm cho các công trình kiến trúc nói chung và nhà ở nói riêng có một sức hấp dẫn riêng về tính năng cũng như thẩm mỹ nghệ thuật. Thường thì người dân không trát vữa lên những bức tường bằng gạch đá ong mà để mộc, xù xì cùng màu vàng óng càng toát lên vẻ đẹp tự nhiên và tạo sự hấp dẫn. Những chiếc cổng nhà ở Hà Tây khá đa dạng về loại hình, nên rất khó khăn trong việc phân loại hay mô tả chúng như ở Hành Thiện. Chúng ta có thể bắt gặp những chiếc cổng dân gian đơn giản theo truyền thống hay những chiếc có niên đại cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nhưng thuần Việt chen lẫn những chiếc mang phong cách Trung Hoa, cùng với những chiếc cổng đã ảnh hưởng kiến trúc Pháp như ở Hành Thiện.

Những chiếc cổng dân gian có kết cấu đơn giản thường chỉ có mặt trước và sau, hai bên có dựng cột như dựa vào tường của công trình kiến trúc khác. Cổng nhà ở Thạch Thất, mặt trước được làm phẳng gồm hai phần trán và thân cổng; trán cổng bổ trụ hai bên có trang trí khối hoa chè tròn nổi cao, ở giữa trán là một ô học dưới dạng hoành phi có khắc nổi Hán tự. Giữa thân và trán cổng, phân biệt bằng một đường gờ nổi dật cấp, dưới đường gờ là một vài họa tiết trang trí theo bản lề ôm lấy vòm cổng. Mặt sau, là một mái ngói dốc xuống nối từ đỉnh, tạo thành một khoảng không gian có thể tránh được mưa nắng. Cánh cổng bằng gỗ có trục xoay ăn vào các cối mộng là thanh ngang ở phía trên, phía dưới khoét lỗ xoay trực tiếp vào nền đất, gạch.

Những chiếc cổng ảnh hưởng phong cách của Trung Hoa có nhiều hình thức khác nhau. Ở Ước Lễ, chiếc cổng nhà có hình tròn dẹt, mặt trước và sau giống nhau nhưng chia làm hai phần khá rõ. Phần trên, là một dải bờ nóc nổi khối khỏe mạnh, uốn lượn theo dáng của vòng tròn nhưng hơi lệch đôi chút như để phá cách nhằm đối trọng với vòm cổng. Ăn vào với bờ nóc là những viên ngói tròn theo kiểu Tàu uốn theo đường gờ và rải đều sang hai bên. Phần dưới là vòm cổng hình tròn có đáy ăn ngập xuống đất, xung quanh đó là các đường gờ nổi vừa để trang trí vừa tạo cảm giác chắc chắn cho kiến trúc.

Chiếc cổng nhà ở Thanh Oai lại mang một phong cách khác, xây dưới dạng hộp chữ nhật gồm bốn mặt, nó vừa có xu hướng dàn trải theo chiều ngang vừa có ý định vươn lên cao hơn trong không gian. Kết cấu này, có mặt cổng được làm khá cầu kỳ và bề thế với 4 hàng trụ chịu lực, 2 trụ ngoài dưới dạng cột tròn, 2 trụ chính theo kiểu vuông như đối xứng, phá cách lẫn nhau, vừa giải quyết được vấn đề thẩm mỹ vừa có tác dụng chịu lực rất tốt. Phần trán cổng được làm khá lớn, người ta làm giả thêm một tầng trên giống như gác chuông, kết hợp cùng với bộ mái có 4 đầu đao vút lên tạo sự bay bổng và nhẹ nhõm cho kiến trúc. Trung tâm của trán cổng là hình chữ thọ đắp nổi kết hợp với 4 con dơi ở các góc. Ngoài ra, hai chiếc tai cổng được làm dưới dạng cuốn thư ăn liền vào trán cổng, trải dần xuống thân cổng và được chịu lực bởi hai trụ chính. Tại đỉnh của hai chiếc trụ chính, người ta đắp nổi hai con nghê dưới dạng phù điêu trông hết sức ngộ nghĩnh. Đỉnh của hai chiếc trụ ngoài được trang trí dưới dạng hộp đèn, bên trên có đấu tròn thót đáy. Toàn bộ phần trán cổng, thân cổng, đế cổng được phân biệt bởi những đường gờ lớn rất rõ ràng. Đặc biệt là phần đế cổng, người thợ thiết kế dưới dạng đế tròn kiểu trái rành hay vuông dật cấp và bè ra ở phía dưới. Mặt sau và bên của cổng trang trí đơn giản hơn rất nhiều, thường để phẳng, giữa các phần có các đường gờ nổi để phân biệt. Có chiếc lại được làm dưới dạng dẹt (chỉ có mặt trước và sau) nhưng có tới hai tầng mái (tám mái) lợp bằng ngói ống có các đầu đao vút lên. Đây là một dạng kiến trúc điển hình ở thời Nguyễn (chúng ta có thể bắt gặp ở Huế) khi đã có ảnh hưởng rất đậm của Trung Hoa.

Một chiếc cổng khác ở xã Kim Thư, huyện Thanh Oai - Hà Tây cũng chỉ có hai mặt: trước, sau nhưng bộ mái khá hoành tráng với kết cấu khung đỡ là các chiếc đấu kiểu đầu dê mà chúng ta có thể bắt gặp trong kết cấu bộ vì đền Thiên Hậu ở Phố Hiến hay các Hội quán Trung Hoa ở Hội An. Trên bờ nóc được trang trí khá đẹp, với trung tâm là một khối hoa văn đắp nổi, hai đầu kìm là hình rồng phun mây chầu vào giữa, 4 đầu đao đều có xu hướng vút lên phía trên chen lẫn các hàng ngói ống. Cổng cũng được bổ thành 4 trụ, với hai trụ chính đỡ lấy phần trán và mái cổng, hai trụ ngoài như để trang trí thêm cho toàn bộ kết cấu kiến trúc. Giữa trụ chính và trụ ngoài là hai mảng lớn chia thành những ô học được trang trí các hoa văn khá đa dạng. Trung tâm ô học là hình chữ thọ, bên trên là bầu rượu hay thư bút, hai hình hoa văn dưới dạng rút rế (hoa văn này lại ảnh hưởng của kiến trúc Pháp) ở dưới. Toàn bộ chiếc cổng được làm khá tỉ mỉ với những đường gờ nổi chia thành các phần rõ rệt. Trên trán cổng, người ta để dưới dạng hoành phi đắp nổi bốn chữ Hán Quang tiền tục hậu (Đằng trước thì sáng sủa, đằng sau thì mỹ tục), cột để trơn không thấy xuất hiện hai hàng câu đối như thường lệ.

Cũng giống như Hành Thiện, những chiếc cổng ở Hà Tây đã có ảnh hưởng kiến trúc Pháp xen lẫn với những hoa văn truyền thống. Nó có kết cấu hình hộp chữ nhật cùng với hai trụ ngoài ở mặt trước. Từ đây, các đường gờ đã chia cổng làm ba phần chủ yếu với các họa tiết trang trí theo kiểu Pháp bên cạnh những đường nét hoa văn Việt truyền thống. Chiếc cổng ở xã Hồng Dương, Thanh Oai lại mang một phong cách Pháp thuần túy với những hoa văn trang trí gần giống ở Nhà Hát lớn Hà Nội. Tuy đơn giản hơn nhiều, nhưng cũng toát lên sự cầu kỳ nhất định với những đường nét phi phương Đông.

Riêng những chiếc cổng ở Mông Phụ (Đường Lâm, Sơn Tây) hiện còn được nhiều gia đình lưu giữ và sử dụng. Về cơ bản chúng bao gồm 3 loại, cổng có kiểu dáng dân gian thuần Việt, cổng được làm mới nhưng trên nguyên tắc cổ truyền, cổng đã ảnh hưởng phong cách kiến trúc Pháp. Tuy nhiên, những chiếc cổng dân gian, đơn giản vẫn được sử dụng phổ biến, với kết cấu không cầu kỳ từ chất liệu gạch đá ong, gạch ngói bản, tre và gỗ. Loại cổng này cũng có hai hình thức khác nhau. Thứ nhất là dáng hình hộp chữ nhật có hai mái kiểu tường hồi bít đốc, mái dốc về hai phía, nhưng cũng có khi chỉ có một mái lớn dốc về phía sau. Phần mái được kết cấu gồm thượng lương, hoành mái bằng tre nứa cùng vài thanh rui, phần thân dùng tường chịu lực khá đơn giản và có cánh bằng gỗ chôn ngập vào tường. Thứ hai, là dáng cổng dẹt có mái giống như loại một nhưng nhỏ hơn, được đỡ bởi những cột chịu lực và cánh cổng gỗ. Riêng đối với hai chiếc cánh cổng bằng gỗ, bộ phận then cài khá đặc biệt, một tay nắm như chuôi dao luồn, cắm vuông góc với bề mặt cánh, có thể xoay tròn theo trục của nó, bên trong một thanh nằm ngang để chặn vào mấu khóa của cánh bên cạnh. Mỗi lần xoay đi xoay lại chiếc then ngang chuyển động tròn ra vào mấu khóa và cửa có thể đóng hoặc mở.

Một loại cổng nữa có khá nhiều ở Mông Phụ, đó là kiểu kiến trúc mới nhưng được làm giống như cổng thành cổ và có cửa gỗ với những chiếc đinh tán gồ ghề. Loại cổng này được làm dưới dạng dẹt, chỉ có mặt trước và sau, các đồ án trang trí chủ yếu ở phần trán cổng của mặt trước. Trên trán cổng thường chia thành các ô học, trong có trang trí hoa chanh bốn cánh. Giữa trán cổng và thân cổng thường phân chia bằng các đường gờ nổi khối, tạo điểm nhấn nghỉ mắt và thẩm mỹ khá hiệu quả.

Hình ảnh những chiếc cổng tạm gọi là truyền thống còn sót lại ở châu thổ Bắc Bộ, tuy chưa giúp chúng ta nhìn một cách tổng thể về một loại kết cấu thuộc kiến trúc nhà ở nói chung, nhưng nó đã gợi mở cho một cái nhìn khác về văn hóa của người Việt. Cổng nhà và tường bao là một yếu tố linh hoạt cho toàn bộ không gian của ngôi nhà. Nếu nhà được coi là yếu tố tĩnh, cố định thì cổng và tường bao là yếu tố động, không cố định. Chính vì vậy, vô tình nó trở thành một “vũ khí” cho người ở vốn dĩ đã đói không gian sống lại có thêm tâm lý cơi nới, mở rộng lãnh thổ nhà mình. Rõ nhất là các gia đình sống ở thành phố, đặc biệt trong các ngõ ngách ngày càng có xu hướng bị thu hẹp theo thời gian. Điều đó không chỉ diễn ra ở các đô thị ngày nay, mà các làng quê như Bát Tràng (Gia Lâm) cũng vậy, khu vực càng cổ thì đường đi càng hẹp, đó cũng là kinh nghiệm cho những ai đi điền dã nghiên cứu về kiến trúc.

Qua chiếc cổng nhà, tường bao hiện nay của người Việt, có thể thấy sự cơi nới, lấn chiếm những công trình công cộng đã trở nên nhức nhối, đặc biệt là ở Hà Nội. Họ không chỉ dùng nó để dần hợp thức hóa phần đường công cộng thành sân nhà mình mà còn biến cả những di tích lịch sử văn hóa thành của riêng. Những nghiên cứu về người Việt đều cho rằng, đây là một tộc người có tính cộng đồng cao, các giá trị cá nhân đặt dưới giá trị cộng đồng và con người hòa tan với cộng đồng. Theo tôi, không hoàn toàn như vậy, người Việt chỉ mang tính cộng đồng ở vỏ bề ngoài, với những hành động có vẻ tuân thủ tập thể nhưng ẩn chứa trong đó là toan tính lợi ích cá nhân. Tính cá nhân được che dấu ấy luôn thường trực và trở thành một chủ nghĩa cá nhân hẹp hòi, manh mún, tiểu nông, vị kỷ. Có người cho rằng đó là lối ứng xử lưỡng nguyên, mềm dẻo, linh hoạt. Nếu thật như vậy, thì lối ứng xử này chỉ phù hợp cho bối cảnh của xã hội tiểu nông và là sức cản trở cho sự phát triển ở xã hội văn minh. Thực chất, người Việt ngày nay vốn sẵn có đầu óc thực dụng, tính cá nhân chủ nghĩa tiềm tàng bên trong vỏ bọc cộng đồng truyền thống kết hợp với tính cá nhân chủ nghĩa phương Tây đã cho ra đời một sản phẩm khác lạ với cha ông họ và càng khác xa với người phương Tây. Những hành động viện cớ khai phóng cá nhân biện minh cho việc xâm lấn diện tích công để cơi nới khu vực của mình đã trở thành như một “căn bệnh” phổ biến lan tới nhiều gia đình khác trong cộng đồng.

Hãy để những chiếc cổng của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ mang nét đẹp truyền thống bên cạnh đường nét giao thoa như minh chứng cho tính chất khoan dung văn hóa của dân tộc, chứ đừng để nó nhuốm màu sắc tư lợi của chủ nghĩa cá nhân hẹp hòi.

___________________

1. Tạ Hoàng Vân, Vật liệu trongkiến trúc cổ Việt Nam, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 5, 2005.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.