Công nghệ viễn thám
Đến nay, công nghệ định vị toàn cầu (GPS) đạt độ chính xác milimet, công nghệ chụp ảnh mặt đất từ vệ tinh (RS) đạt độ phân giải 2,5m; 1m; 0,6m ... và siêu phổ 16 kênh và nhiều hơn cho phép thu nhận thông tin trên từng đối tượng nhỏ đa lĩnh vực, ở bất kỳ thời điểm nào, bởi hiện tại có rất nhiều loại vệ tinh có chu kỳ lặp rất ngắn. Do vậy, công nghệ viễn thám hiện rất phát triển, đem lại hiệu quả cao cho nhiều hoạt động kinh tế, xã hội và quốc phòng như: quản lý tài nguyên, giám sát môi trường, điều tra cơ bản, tổ chức và quản lý lãnh thổ, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, vì thế viễn thám là một công nghệ quan trọng trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia.
Ở Việt nam, viễn thám được ứng dụng từ những năm tám mươi đã đem lại những kết quả có giá trị như: thành lập bản đồ nhạy cảm, bản đồ tài nguyên vùng ven biển Việt nam tỷ lệ 1:100.000; 1:250.000; 1:500.000 và bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 các đảo và quần đảo của Việt Nam, với các sản phẩm này bằng công nghệ khác khó có thể đáp ứng, gần đây bằng công nghệ viễn thám với ảnh vệ tinh độ phân giải 10m đã tiến hành hiện chỉnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 và 1:25.000 cho toàn bộ các tỉnh miền tây đồng thời thành lập CSDL nền địa hình ở các tỷ lệ này phục vụ cho nhiều lĩnh vực, hơn nữa bằng tư liệu này cũng đã tiến hành thử nghiệm thanh công cho thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất ở tỷ lệ 1:25.000. Chính những kết quả này đã khẳng định tính ưu việt cũng như tiềm năng của công nghệ viễn thám cho:
- Giám sát ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí.
- Giám sát cháy rừng và nạn phá rừng.
- Theo dõi và dự báo bão.
- Theo dõi và dự báo lũ lụt.
- Theo dõi hiện tượng xói lở, đất trượt, xói mòn ...
- Giám sát mùa màng.
- Theo dõi biến động hệ sinh thái.
- Quy hoạch đô thị, nông nghiệp, lâm nghiệp.
- Thành lập và hiện chỉnh hệ các CSDL và bản đồ.
Đây chính là những lĩnh vực mà Chính phủ Việt nam mong muon, yêu cầu ứng dụng công nghệ viễn thám để giải quyết, trong kế hoạch từ 2001 đến 2010.
Viễn thám là phương pháp thu nhận thông tin khách quan bề mặt trái đất và các hiện tượng trong khí quyển qua nghiên cứu hình ảnh thu đựơc từ hệ thống quang học hoặc song radar . Là nguồn tư liệu không thể thiếu cho xây dung , cập nhật hệ các cơ sở
Dữ liệu thông tin địa lý phục vụ công tác quản lý các ngành , các cấp .
Thành phần cơ bản của công nghệ viễn thám gồm:
- Các vệ tinh quan sát trái đất.
- Trạm thu ảnh vệ tinh mặt đất.
- Các trung tâm sử lý và khai thác thông tin viễn thám.
Sơ đồ quy trình thành lập bản đồ ảnh Vệ tinh :
![]() |
1. Giám sát và bảo vệ môi trường.
Song song với sự phát triển kinh tế, nhiều khu công nghiệp được mở ra thì chất thải công nghiệp chưa được sử lý làm ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường đất, nước và không khí phá huỷ sự cân bằng sinh thái, khiến chất lượng tài nguyên nước suy giảm, đa dạng sinh học trên đất, trên biển thu hẹp, thiên tai bảo lũ gây thiệt hại ngày càng lớn do rừng bị tàn phá, đi đôi với lũ lụt là hiện tượng xỏi lở bờ sông, sụt đất, xói mòn đất. Hiện tượng tràn dầu làm ô nhiễm biển và sông như vùng cảng Sài Gòn, Vũng Tàu làm ảnh hưởng đến đời sống, gây tác hại đến nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ hải sản .
Khắc phục tình trạng này, công nghệ viễn thám là công nghệ hữu hiệu nhất làm giảm thiểu sự tàn phá của thiên tai, lũ lụt, sạt lỡ đất hay nguy cơ cho môi trường đô thị và nông thôn .
2 . Điều tra quản lý tài nguyên thiên nhiên.
Để phục vụ cho quản lý, quy hoạch sử dụng tài nguyên đất, nước, rừng, khoáng sản Nhà nước quy định 5 năm tổng kiểm kê việc sử dụng đất cho các mục đích trên phạm vi toàn quốc. Song bằng phương pháp hàng không chi phí cao và thời gian thi công chậm hơn nhiều so với bằng ảnh vệ tinh đa phổ có độ phân giải cao.
Do vậy, nhu cầu thiết yếu là tăng cường khả năng điều tra, quản lý chính xác tài nguyên bằng hệ thống giám sát từ vệ tinh cho:
- Giám sát khai thác, trồng rừng và quy hoạch phát triển lâm nghiệp.
- Kiểm kê và đánh giá tình hình sử dụng tài nguyên đất.
- Điều tra, quy hoạch sử dụng tài nguyên nước.
- Nghiên cứu địa chất, tìm kiếm thăm dò khoáng sản.
- Quy hoạch và phát triển nông nghiệp, vùng.
3. Thành lập và hiện chỉnh bản đồ.
Bản đồ là tài liệu thiết yếu của nhiều ngành để quản lý lãnh thổ, để thiết kế, quy hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp, giao thông, xây dựng v.v... Việt Nam tiến hành thành lập bản đồ địa hình từ nhiều năm bằng ảnh hàng không, quá trình để có được bản đồ kéo dài nên không kịp đáp ứng nhu cầu thực tế. Hơn nữa việc cập nhật bản đồ bằng ảnh hàng không tốn kém và chem. Do vậy thông tin trên bản đồ thưưòng lạc hậu, hiện tại ảnh vệ tinh độ phân giải cao 2,5m; 1m; 0,6m có chu kỳ chụp lặp nhanh vài ngày có thể thu nhận được ảnh tại 1 vùng trên trái đất, do đó công nghệ viễn thám có khả năng hiện chỉnh nhanh và rất kinh tế, đáp ứng được nhu cầu thông tin chính xác và hiện trạng.
Do vậy sử dụng ảnh vệ tinh cho:
- Đo vẽ và cập nhật hệ thống bản đồ địa hình.
- Đo vẽ và cập nhật bản đồ địa chính.
- Thành lập các bản đồ chuyên đề.
Đang được ứng dụng ngày càng nhiều ở các cơ quan, ban ngành trong cả nước.
4. Cải cách quản lý hành chính lãnh thổ.
Quản lý hành chính lãnh thổ gồm các nội dung chủ yếu :
- Hoạch định và quản lý biên giới quốc gia trên đất lion và vùng biển.
- Phân định và quản lý địa giới hành chính các cấp.
- Quản lý sử dụng đất đai.
Từ trước tới nay, để quản lý các nội dung trên chúng ta chưa có một loại hình tư liệu đồng nhất, nên việc quản lý chưa thật chính xác và thật khoa học. Công nghệ viễn thám với ảnh vệ tinh độ phân giải cao sẽ cung cấp cho hệ thống quản lý 1 bộ tư liệu thống nhất, đảm bảo độ chính xác có khả năng cập nhật thường xuyên.
Đất nước ta đang trong giai đoạn công nghệ hoá - hiện đại hoá, công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội là vấn đề vô cùng quan trọng, quy hoạch có tính khả thi cao thì hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội càng lớn, nhu cầu tư liệu đòi hỏi phải chính xác, hiện thực và thống nhất.
Công nghệ viễn thám và tư liệu ảnh vệ tinh hiện nay hoàn toàn đáp ứng nhu cầu về thông tin cho các cấp lãnh đạo, các ban ngành cho công tác quy hoạch.









