Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 17/10/2007 23:38 (GMT+7)

Công nghệ khai thác hầm lò đáp ứng yêu cầu phát triển ngành mỏ giai đoạn 2006 – 2010 và những năm sau

Đạt được sự tăng trưởng các chỉ tiêu khai thác hầm lò trên đây là do những năm qua các mỏ đã đổi mới to lớn trong công nghệ đào lò và khai thác: trong lò chợ đã chuyển đổi từ chống gỗ sang chống bằng cột thuỷ lực, trong nhiều gương đào lò đã chuyển đổi khâu khoan, xúc bốc thủ công sang sử dụng thiết bị cơ giới hoá. Tuy nhiên so với trình độ công nghệ khai thác hầm lò hiện nay vẫn là khấu than bằng khoan nổ mìn gắn liền với việc tổ chức sản xuất không liên tục và các công đoạn lao động thủ công nặng nhọc; chính vì vậy năng suất và sản lượng khai thác hầm lò chưa cao. Để đáp ứng yêu cầu phát triển hầm lò cần phải tiếp tục đổi mới theo hướng cơ giới hoá, hiện đại hoá.

Việc đổi mới công nghệ khai thác cần được xem xét toàn diện về mặt sơ đồ và phương pháp. Trong giai đoạn vừa qua, các sơ đồ công nghệ khai thác cơ bản đã và đang áp dụng tại các mỏ hầm lò bao gồm:

- Cột dài theo phương, điều khiển đá vách bằng phá hoả toàn phần, khấu than bằng khoan nổ mìn, chống lò bằng vì kim loại cột thủy lực hoặc giá thủy lực di động.

- Cột dài theo phương hạ trần than nóc, khấu than bằng khoan nổ mìn, chống lò bằng giá thuỷ lực di động hoặc cột thuỷ lực đơn với xà hộp

- Chia lớp nghiêng, khấu than bằng khoan nổ mìn, chống lò bằng cột thuỷ lực đơn với xà khớp.

- Chia lớp nghiêng hạ trần than lớp giữa, khấu than bằng khoan nổ mìn, chống lò bằng cột thuỷ lực đơn với xà khớp ở lớp vách, cột thủy lực đơn với xà hộp hoặc gía thuỷ lực ở lớp trụ.

- Chia lớp ngang nghiêng, khấu than bằng khoan nổ mìn, chống lò bằng giá thủy lực hoặc cột thuỷ lực đơn với xà hộp.

- Lò dọc vỉa phân tầng, khấu than bằng khoan nổ mìn, chống giữ gương khai thác bằng cột thuỷ lực đơn với xà hộp.

Ngoài ra, ở các điều kiện riêng, tại các mỏ cũng đã và đang áp dụng các sơ đồ công nghệ khai thác sau:

- Cột dài theo phương, điều khiển đá vách bằng các dải trụ than cho điều kiện đá vách khó sập đổ, khấu than bằng khoan nổ mìn, chống lò bằng gỗ, hoặc cũng ở điều kiện trên đã sử dụng điều khiển vách đá bằng phá hoả toàn phần kết hợp tăng cường bảo vệ gương khấu bằng cột chống thủy lực đơn với mật độ lớn.

- Giàn chống mềm, kết cấu bằng thép I hoặc thép ray với gông và cáp thép, khấu than bằng khoan nổ mìn, áp dụng cho các vỉa dốc đứng, ổn định chiều dày và góc dốc.

Nhìn tổng quan, sơ đồ (hệ thống) khai thác hiện đang áp dụng tại các mỏ đảm bảo phù hợp với điều kiện địa chất vùng Quảng Ninh. Tuy nhiên phương pháp, kỹ thuật công nghệ trong hệ thống khai thác trên còn ở trình độ thấp: khấu than bằng khoan nổ mìn thủ công, chống lò bằng cột thuỷ lực mặc dù mức độ an toàn có nâng cao hơn nhiều so với chống gỗ nhưng thao tác vẫn thủ công, năng suất thấp và chưa giải quyết triệt để yêu cầu chống giữ, điều khiển áp lực mỏ trong lò chợ. Công nghệ khai thác bán cơ giới (khấu than bằng máy combai kết hợp chống giữ bằng gía thuỷ lực di động) và cơ giới hoá đồng bộ (máy khấu than bằng máy combai + giàn chống tự hành) mới ở giai đoạn đầu áp dụng (thử nghiệm).

Hiện trạng trên đây cho thấy để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, công nghệ khai thác hầm lò cần phải đổi mới mạnh mẽ và toàn diện. Vấn đề cần tập trung đổi mới là:

- Xem xét trong thiết kế quy hoạch mỏ: Nghiên cứu hệ thống khai thông chuẩn bị theo hướng kéo dài đường phương khai thác lò chợ đảm bảo phù hợp với điều kiện địa chất mỏ phức tạp nhằm tăng khu vực có khả năng áp dụng công nghệ khai thác cơ giới hoá. Ưu tiên sử dụng hệ thống vận tải liên tục, đặc biệt là các loại băng tải để cho phép nâng cao công suất mỏ.

- Đổi mới công nghệ đào chống lò: Tăng cường đầu tư áp dụng đào lò bằng thiết bị cơ giới hoá như các xe koan TAMROCK, máy xúc lật sau 1 P P H - 5, máy xúc lật hông LBS - 500 W, các máy liên hợp đào lò AM - 50 Z, AM - 85, AM - 105 H… Phát triển áp dụng công nghệ chống lò bằng các loại vì neo, đặc biệt là neo chất dẻo, neo cáp nhằm giảm chi phí đào chống lò và gia cường các đường lò có tiết diện lớn phù hợp với công nghệ khai thác cơ giới hoá.

- Đổi mới trong công nghệ khai thác than: Để tiếp tục nâng cao năng suất, sản lượng và mức độ an toàn lao động trong các sơ đồ khai thác nói trên cần tập trung đầu tư đổi mới các thiết bị cơ giới hoá phù hợp theo hướng khấu than bằng máy, chống lò và điều khiển đá vách bằng các vì chống thuỷ lực và các giàn chống tự hành, đồng bộ hoá dây chuyền đảm bảo mức độ tập trung sản xuất cao. Đổi mới thiết bị công nghệ khai thác nên tiến hành đồng thời theo 2 hướng:

+ Cơ giới hoá khai thác lò chợ dài nhằm nâng cao năng suất, sản lượng khai thác ở những khu vực có điều kiện thuận lợi.

+ Cơ giới hoá khai thác gương lò ngắn để nâng cao hiệu quả khai thác các khu vực có điều kiện địa chất phức tạp.

Ba vấn đề tập trung đổi mới trên đây là nền tảng để lĩnh vực khai thác hầm lò đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành Than những năm tới. Về các mô hình áp dụng công nghệ khai thác cơ giới hoá, ngoài các vấn đề chi phối quan trọng là điều kiện địa chất mỏ và hiệu quả đầu tư thì trình độ kỹ thuật công nghệ cũng ảnh hưởng rất lớn. Xét về các yếu tố trên đối với lĩnh vực khai thác than của các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh hiện tại thì mô hình công nghệ cơ giới hoá khai thác cần thực hiện như sau:

- Đối với lò chợ dài:

+ Bán cơ giới hoá: thực hiện khấu than bằng máy liên hợp trong các lò chợ chống giữ bằng cột thủy lực đơn hoặc giá thuỷ lực di động nhằm đưa công suất khai thác từ 100.000 - 120.000 tấn/ năm hiện nay của các lò chợ vì thuỷ lực - khoan nổ mìn lên đạt công suất 200.000 - 250.000 tấn/ năm.

+ Cơ giới hoá đồng bộ: Sử dụng máy khấu than với giàn chống tự hành trong lò chợ dài để đưa công suất khai thác đạt 400.000 - 500.000 tấn/ năm, gấp hơn 4 lần so với lò chợ cột thuỷ lực - khoan nổ mìn.

- Đối với gương khấu ngắn:

+ Bán cơ giới hoá: khai thác vỉa dày dốc bằng máy combai đào lò kết hợp giá thuỷ lực di động trong sơ đồ chia lớp ngang nghiêng, khấu than bằng kim loại nổ mìn.

+ Cơ giới hoá đồng bộ khai thác lò chợ ngắn: sử dụng máy khấu than với giàn chống tự hành có cơ cấu hạ trần than nóc để đưa công suất khai thác đạt 250.000 - 300.000 tấn/ năm, gấp 2 lần so với lò chợ giá thuỷ lực - khoan nổ mìn, áp dụng trong điều kiện vỉa dày góc dốc 35 0. Sử dụng máy khấu than với giàn chống tự hành trong lò chợ vỉa dốc trên 35 0cho các vỉa mỏng và dày trung bình (đây là mô hình công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực khai thác than hầm lò của thế giới, rất cần được nghiên cứu áp dụng ở Việt Nam nhằm mở rộng và phát triển công nghệ cơ giới hoá).

+ Cơ giới hoá đồng bộ khai thác vỉa dày dốc bằng combai đào lò kết hợp giàn chống tự hành và hệ thống khoan nổ mìn lỗ khoan dài.

+ Cơ giới hoá khai thác vỉa mỏng dốc bằng sơ đồ chia cột theo hướng dốc sử dụng giàn chống tự hành kiểu 2 A với máy khấu. Có thể khai thác các vỉa mỏng bằng lỗ khoan đường kính lớn.

Căn cứ vào tình hình thực tế và các mô hình công nghệ cơ giới hoá khai thác lựa chọn, có thể chia ra các giai đoạn phát triển công nghệ khai thác hầm lò như sau:

- Giai đoạn I: hoàn thiện và phát triển công nghệ khai thác được đổi mới trong mấy năm vừa qua là sử dụng cột chống thuỷ lực đơn và giá thuỷ lực di động trong gương khai thác khấu than bằng khoan nổ mìn nhằm tăng công suất khai thác tính chung cho các lò chợ đạt 100.000 - 120.000 tấn/ năm.

- Giai đoạn II: thực hiện công nghệ bán cơ giới hoá; đưa máy liên hợp khấu than vào các gương lò chợ cột thuỷ lực đơn và giá thuỷ lực di động, chuyển phương thức khấu than bằng khoan nổ mìn sang khấu than bằng máy để đưa công suất lò chợ lên 200.000 - 250.000 tấn/ năm.

- Giai đoạn III: cơ giới đồng bộ bằng máy khấu combai kết hợp giàn chống tự hành để đưa công suất lò chợ đạt 400.000 tấn/ năm và hơn thế nữa.

Do điều kiện địa chất mỏ tại vùng Quảnh Ninh phức tạp nên ranh giới phân chia các giai đoạn phát triển công nghệ như trên chỉ mang tính tương đối. Giai đoạn I sẽ vẫn duy trì trong suốt quá trình khai thác ở tất cả các mỏ. Giai đoạn II và III mới bắt đầu thử nghiệm tại Khe Chàm, sắp tới tại Dương Huy và cùng song song phát triển.

Để tiến hành đổi mới công nghệ khai thác theo hướng cơ giới hoá đáp ứng yêu cầu phát triển ngành than giai đoạn tới, một số ý kiến đề xuất thực hiện như sau:

- Đánh giá tổng thể trữ lượng, điều kiện sản trạng vỉa và xác định mô hình công nghệ cơ giới hoá phù hợp cho tất cả các mỏ than hầm lò thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam .

- Lập quy hoạch phát triển công nghệ cơ giới hoá ở tất cả các mỏ giai đoạn 2006 - 2015 phù hợp với phát triển sản lượng và mô hình cơ giới hoá với mục tiêu đến năm 2010 ở mỗi công ty than hầm lò có ít nhất 1 - 2 và đến năm 2015 có 3 - 4 lò chợ cơ giới hoá đồng bộ với công suất trên 400.000 tấn/ năm; ngoài ra là các lò chợ bán cơ giới và các loại hình công nghệ khai thác khác.

- Triển khai áp dụng thử nghiệm các loại hình công nghệ cơ giới hoá tại các mỏ trong giai đoạn 2006 - 2008:

+ Từ kết quả thử nghiệm tại Khe Chàm sẽ tiếp tục phát triển công nghệ cơ giới hoá đồng bộ bằng máy khấu than với giàn chống tự hành trong lò chợ dài của sơ đồ khai thác cột dài theo phương khấu toàn bộ chiều dày vỉa tại Nam Mẫu - Uông Bí, Vàng Danh, Dương Huy.

+ Cơ giới hoá đồng bộ bằng máy khấu than với giàn chống tự hành trong lò chợ dài hoặc ngắn của sơ đồ khai thác cột dài theo phương hạ trần than nóc tại Hà Lầm, Vàng Danh, Thống Nhất.

+ Cơ giới hoá đồng bộ bằng máy khấu than với giàn chống tự hành trong lò chợ ngắn của sơ dồ khai thác cột dài theo phương cho vỉa mỏng và dày trung bình, dốc trên 35 0tại Hồng Thái - Uông Bí, Mạo KHê, Quang Hanh, Mông Dương.

+ Cơ giới hoá khai thác gương lò ngắn theo sơ đồ chia lớp ngang nghiên cho vỉa dày dốc bằng máy combai đào lò với giàn chống tự hành hoặc giá thuỷ lực di động, hạ trần than theo phương pháp nổ mìn trong các lỗ khoan dài tại Vàng Danh, Giáp Khẩu - Hòn Gai.

- Tổ chức sản xuất, lắp ráp và nội địa hoá các thiết bị công nghệ khai thác nhập của nước ngoài, cụ thể là các loại giàn chống tự hành, máy đào lò, máng cào gương, máng cào chuyền tải, băng tải, hệ thống đường ray treo (monoray)…

- Đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật có khả năng làm chủ công nghệ và thiết bị cơ giới hoá hiện đại.

- Xây dựng phương thức chuyển giao công nghệ phù hợp và các giải pháp khuyến khích đầu tư áp dụng công nghệ cơ giới hoá trong Tập đoàn.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.