Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 17/11/2010 18:50 (GMT+7)

Công cụ kinh tế và chính sách bảo vệ môi trường trong ngành than

Phân định hoạt động bảo vệ môi trường và chi phí môi trường.

Cho đến nay chưa có văn bản pháp quy quy định cụ thể, chi tiết hoạt động bảo vệ môi trường (BVMT) và chi phí môi trường. Điều đó gây khó khăn cho việc quản lý, thực hiện các hoạt động BVMT và chi phí môi trường trong các doanh nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp mỏ (than) nói riêng. Luật BVMT năm 2005 định nghĩa về phạm vi các hoạt động BVMT rất rộng, liên quan hầu hết các hoạt động trong quá trình khai thác mỏ.

Trong khai thác than có nhiều loại hoạt động rất khó phân biệt một cách rạch ròi giữa các hoạt động BVMT, an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp, phòng chống lụt bão, hay đổi mới công nghệ, thiết bị… Ví dụ: hoạt động tưới nước trên đường vận tải trong và ngoài mỏ, tưới nước dập bụi tại các điểm phát sinh bụi; các hoạt động phòng chống, khắc phục hậu quả lụt bão; công tác thông gió trong mỏ hầm lò, trong các xưởng sản xuất, sửa chữa; trang bị bảo hộ lao động; trồng cây xanh và làm vệ sinh xung quanh cơ quan; nạo vét kênh mương thoát nước; kè bãi thải đất đá, tận thu than trong bãi thải đất đá, trong bể lắng bùn của nhà máy tuyển; cải tiến công nghệ để nâng cao hệ số thu hồi than, giảm tổn thất than trong quá trình khai thác, vận chuyển, sàng tuyển, thay thế vật liệu mới an toàn hơn, ít độc hại hơn… Đó là những hoạt động đã được thực hiện thường xuyên trước khi có Luật BVMT và liên quan đến nhiều mục đích như BVMT, an toàn lao động, sức khỏe cho người lao động, chống trôi lấp, chống xói mòn, bảo vệ tài sản, giảm tổn thất và tận thu tài nguyên….

Do chưa phân định rõ các hoạt động BVMT nên việc quản lý, sử dụng và hạch toán chi phí môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất than chưa chặt chẽ, chưa thống nhất, còn lẫn lộn, hiểu thế nào cũng được…

Xuất phát từ định nghĩa Luật BVMT 2005, từ góc độ tài trợ kinh phí từ Quỹ môi trường hay quản lý chi phí môi trường nên phân loại các hoạt động BVMT ra hai nhóm chính: Nhóm thứ nhất gồm các hoạt động thuần túy vì mục đích môi trường. Đối với các hoạt động thuộc nhóm này đều do Quỹ môi trường hoặc kinh phí môi trường tài trợ 100% chi phí để thực hiện. Nhóm thứ hai gồm các hoạt động khác có liên quan đến môi trường hoặc đem lại lợi ích cho môi trường. Đối với các hoạt động thuộc nhóm này tùy theo mức độ liên quan hoặc lợi ích đem lại cho môi trường mà Quỹ môi trường hoặc kinh phí môi trường có thể hỗ trợ chi phí để thực hiện ở mức tương ứng.

Từ phân loại nêu trên, cần có quy định cụ thể một cách chi tiết các hoạt động BVMT trong từng nhóm và cơ chế tài trợ, quản lý kinh phí từ Quỹ môi trường cũng như hạch toán chi phí của các loại hoạt động trong từng nhóm.

Thực hiện ký quỹ để phục hồi môi trường.

Mặc dù đã có Thông tư liên tịch số 126/1999 của Liên Bộ Tài chính - Công nghiệp - Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn việc ký quỹ để phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản theo quy định của Nghị định số 68/CP quy định chi tiết thi hành Luật Khoáng sản nhưng cho đến nay vẫn chưa thực hiện được do nhiều nguyên nhân, trong đó do một số quy định chưa rõ ràng, thiếu căn cứ để tính toán, thiếu tính khả thi trong thực tiễn. Cụ thể là: Chưa quy định rõ các đơn vị, cá nhân đã được cấp phép và đi vào khai thác trước khi có quy định này có phải thực hiện việc ký quỹ phục hồi môi trường không? Vì trong các văn bản chỉ quy định các tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản trước khi tiến hành khai thác khoáng sản có nghĩa vụ gửi một khoản tiên vào tài khoản phong tỏa tại mọi tổ chức tín dụng ở Việt Nam để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phục hồi môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra.

Hiện nay, quy định tại Nghị định 160/2005/NĐ-CP, nơi ký quỹ phục hồi môi trường là Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam . Tuy nhiên, các căn cứ để tính tổng dự toán chi phí phục hồi môi trường còn thiếu hoặc chưa rõ ràng, chính xác, nhất là thiết kế phục hồi môi trường mỏ trong và sau khi kết thúc khai thác và đơn giá dự toán cho các loại công việc phục hồi môi trường chưa có.

Việc thực hiện nộp và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Theo đó, các cơ sở sản xuất khi xả thải nước thải vào môi trường sẽ phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với 7 chất gây ô nhiễm trong nước thải. Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn thi hành NĐ 67. Tập đoàn Than Việt Nam đã ban hành công văn số 47/CV-ĐT thực hiện thu phí nước thải, đồng thời mở lớp tập huấn cho gần 100 cán bộ các đơn vị thành viên để kê khai và nộp phí nước thải của đơn vị và đề xuất với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh phương án thu phí nước thải công nghiệp cho phù hợp với thực tiễn sản xuất than. Qua 4 năm thực hiện, các đơn vị ngành than được đánh giá là ngành thực hiện tốt công tác thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Tổng số tiền hàng năm của toàn ngành than nộp phí đã lên đến hàng tỉ đồng. Tuy nhiên, cho đến nay việc thực thi Nghị định này trong các doanh nghiệp mỏ nói chung và doanh nghiệp than nói riêng còn gặp mộ số vấn đề:

Trong 7 chỉ tiêu thu phí nước thải, hầu hết các chỉ tiêu đó của ngành than đều thấp hơn TCVN 5945-1995(B) rất nhiều lần, ngoại trừ chỉ tiêu chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) từ 2-10 lần. Trong khi đó, kết quả quan trắc môi trường nước thải nhiều năm lại đây cho thấy đặc trưng của nước thải trong ngành than thường có tính axít mạnh (ph thấp), hàm lượng Fe vượt TCCP từ 2- 10 lần, hàm lượng Mn vượt TCCP từ 2-4 lần, hàm lượng S0 42- vượt TCCP từ 1 -3 lần. Như vậy, các chỉ tiêu thu phí theo quy định tại nghị định 67/2003-CP khi áp dụng đối với ngành than là không phù hợp.

Phí môi trường không đánh đúng vào đặc trưng các chất gây ô nhiễm trong nước thải của ngành than nên mức phí phải nộp chưa cao và việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý, giảm thiểu chất ô nhiễm trong nước thải chưa được quan tâm nhiều. Vì vậy, nếu không có các nguồn tài trợ từ ngoài vào thì nhiều doanh nghiệp ngành than vẫn chưa tự đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải.

Thu nộp và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản

Nghị định 137/2005-CP và Thông tư 105/2005-BTC đã được triển khai sâu rộng, tuy nhiên vẫn còn một số quy định chưa phù hợp thực tế như: Chưa quy định rõ mức phí đánh vào các yếu tố gây ô nhiễm nào hay tất cả các yếu tố gây ô nhiễm và tác động xấu tới môi trường trong khai thác than? Do đó, ngành than không biết còn phải nộp loại phí môi trường nào; chẳng hạn phí BVMT đối với nước thải (theo quy định tại NĐ 67/2003-CP) hoặc phí chất thải rắn, phí phát thải khí, v.v...

Chưa quy định rõ sản phẩm là than nguyên khai hay than sạch và có bao gồm cả sổ than tận thu từ bãi thải, bùn nước nhà máy tuyển, v.v. hay không?

Phí này có được sử dụng để khắc phục suy thoái, ô nhiêm môi trường do khai thác than gây ra trong ranh giới mỏ hay chỉ dành cho địa phương nơi có khai thác than để khắc phục suy thoái, ô nhiêm môi trường ngoài ranh giới. Nếu chỉ dành cho địa phương, ngành than có còn phải tham gia, phối hợp và có trách nhiệm về BVMT đối với địa phương nữa hay không?

Trên thực tế, quy định tại Điều 3 của Luật BVMT 2005: "Hoạt động BVMT là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học". Như vậy, việc nâng cao tỉ lệ thu hồi than nguyên khai trong quá trình khai thác và tận thu than từ bãi thải, bùn nước nhà máy tuyển, v.v. là hoạt động bảo vệ môi trường thuộc nhóm "khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên". Do vậy, không thể đánh phí môi trường vào các hoạt động bảo vệ môi trường vì điều đó không phù hợp với quy định của Luật.

Thành lập Quỹ môi trường than

Quỹ môi trường Than Việt Nam được thành lập từ đầu năm 1999 với nguồn hình thành chủ yếu là mức phí môi trường bằng 1% giá thành kế hoạch của sản xuất than. Theo đó, hàng năm vốn đầu tư cho môi trường phối hợp với tỉnh Quảng Ninh chiếm từ 20% đến 50%. Nhờ có Quỹ môi trường TVN mà công tác BVMT của ngành than trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tốt, về cơ bản chặn đứng được đà suy thoái môi trường ở vùng mỏ. Vấn đề đặt ra là sau khi có NĐ 137/2005-CP về nộp phí môi trường trong khai thác khoáng sản nêu trên liệu có còn tồn tại Quỹ môi trường TVN nữa không?

Theo quy định tại Điều 115 của Luật BVMT mới thì "Quỹ bảo vệ môi trường là tổ chức tài chính được thành lập ở trung ương, ngành, lĩnh vực, địa phương để hỗ trợ hoạt động BVMT". Theo tinh thần đó, đồng thời để tạo điều kiện cho việc quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí môi trường một cách chặt chẽ, hợp lý và hiệu quả đề nghị cho phép Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) được duy trì Quỹ môi trường với tên gọi Quỹ môi trường Than - Khoáng sản Việt Nam. Quỹ môi trường TKV dùng để thực hiện các hoạt động BVMT trong ranh giới mỏ; thực hiện các hoạt động BVMT ngoài ranh giới mỏ tại địa phương có khai thác than và khoáng sản theo một trong hai phương thức: nộp phí BVMT cho địa phương và trung ương; hoặc cấp vốn theo dự án đã được duyệt như cách làm lâu nay. Đề nghị nên thực hiện theo cách thứ nhất vì theo cách đó không những tuân thủ đúng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền mà còn đảm bảo quản lý chặt chẽ, sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả hơn.

Việc giải quyết thỏa đáng các vấn đề nêu trên sẽ góp phần tích cực và tạo điều kiện cho ngành than nói chung và các doanh nghiệp sản xuất than nói riêng thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.