Con lợn nhỏ miền núi Việt Nam
Lợn rừng châu Âu x lợn rừng châu Á x lợn Ỉ x lợn cao sản → lợn mini.
* Trong công thức này, nhà nghiên cứu đã sử dụng hỗn hợp bốn hiện tượng sinh học quan trọng:
- Ưu thế lai
- Khả năng phối hợp
- Sức miễn kháng
- Hiện tượng gen lùn
Tôi đã đến một nông trường quốc doanh nhỏ ở ngoại ô Matxcơva nuôi lợn Ỉ, lợn Lang…, hỏi Thương nghiệp Vĩnh Phú” hồi đó.
* Con lợn nhỏ miền núi là những giống lợn nhỏ được nuôi ở các vùng miền núi Việt Namtừ Bắc chí Nam
Lợn Cỏ | hầu hết các miền |
Lợn Mẹo | phần lớn do người H’ Mông nuôi |
Lợn Táp Ná | miền núi Cao Bằng |
Lợn Lửng | miền núi Phú Thọ |
Lợn Bản | miền núi Khu Tây Bắc |
Lợn Cắp nách | miền núi Hoà Bình |
Lợn Vân pa | miền núi Quảng Trị, Thừa Thiên |
Lợn Sóc | miền núi Tây Nguyên |
Lợn Đen | khắp nơi… |
* Lợn có nguồn gốc từ:
Chủng lợn rừng | Sus Scrofa (Á Đông) |
Thứ chủng | Sus Orientalis |
Lớp động vật có vú | Mammalia |
Họ | Sudae |
Loài | Sus |
(theo B.P. Vonpialov, 1950; L. Coringhe, 1961)
Đồng bào dân tộc người Tày, Nùng, H’Mông, Vân Kiều, Tà Ôi, Êđê, Giarai… sinh sống lâu đời trên miền cao
Quan tâm bắt lợn rừng làm thực phẩm;
Dễ nuôi thuần hoá lợn rừng;
Nuôi lợn nhà thả rông, dễ cho phối với lợn rừng; nên đã biến lợn nhà, lợn rừng, lợn lai nhiều thế hệ, hỗn hợp, pha tạp không chọn lọc. Số lượng ngày càng tăng lên, tập tính, sinh trưởng, sinh sản, phẩm chất thịt… không xa cách lợn rừng nguyên thuỷ bao nhiêu. Dần dà, bà con gọi là “giống” mang tên địa phương nuôi, kiểu hình, sắc lông… ứng với quan niệm ngày nay xác định về nguồn gen giống lợn địa phương của UNESCO: “Một nhóm động vật ở một vùng địa lý nào đó có một số đặc điểm kiểu hình giống nhau và được nhân dân địa phương xem là một kiểu hình thì đều được xem như là một giống”. Một Atlas về các giống lợn địa phương Việt Nam(trong đó có con lợn nhỏ miền núi Việt Nam ) đã ấn hành cũng chứng minh rõ điều đó. Như vậy con lợn nhỏ miền núi Việt Namđã được ghi nhận vào nguồn gen giống lợn địa phương quý báu, phong phú và đa dạng của Việt Nam .
Để cùng bảo tồn nguồn gen vật nuôi, năm 1993 nước ta cùng với nhiều nước khác trên thế giới đã ký vào công ước đa dạng sinh học.
* Con lợn nhỏ miền núi có tầm vóc nhỏ, dạng hình mang rõ rệt dấu ấn lợn rừng hoang dã; màu sắc lông da thường đen mốc, có con pha phớt vàng hung, còn non, lông thưa, về già lông bờm cứng, mọc đứng; mõm dài hay đào dũi chân chắc, chạy thoăn thoắt. Đến buổi cho ăn, lợn ăn rông nghe tiếng mẹt đập thình thịch, tiếng kẻng, tiếng quen “ỉn ỉn” thì rào rào chạy về, ăn thốc các chậu sành, các máng gỗ không liếm loát rồi lại nhanh chóng tản ra các bụi cây quanh nhà.
Lợn chậm lớn; có đàn theo mẹ ăn rông trên hai tháng mới bỏ bú, trưởng thành một năm không quá 40kg, có con còi cọc (nuôi vỗ béo kéo dài thời gian có thể to hơn). Tuy nhiên thịt chắc, ít mỡ nhiều nạc, sợi cơ mỏng mà mềm, ăn nướng bùi, ngọt thơm phức, không thua gì thịt lợn rừng gốc nướng lên, “miếng ngon” xưa nay vẫn được ca tụng.
* Lợn ít bị dịch bệnh. Việc tổ chức tiêm phòng định kỳ chặt chẽ có hạn chế bớt dịch bệnh. Con lợn thường hay bị những bệnh thông thường như lở da, sốt cảm, ỉa chảy… do chuồng trại bẩn thỉu. Kinh nghiệm truyền thống dùng các loại lá rừng hay thuốc nam truyền khẩu khi lợn bị rối loạn tiêu hoá:
Quả sa nhân (zinggiberaceae)
Gừng khô (zingiber)
Riềng khô (alpinia officinarum)
Lợn con ra phân trắng, dùng:
Lá bạc thau (argyraia acuta)
Cỏ sữa (euphorbia hirta)
Cây hoàng đàn (fibraurea reaisa)
Cỏ nhọ nồi
Con lợn nhỏ còn là vật thiêng liêng dùng hiến tế thần linh, tổ tiên, ông bà trong các lễ hội, giỗ chạp cuối năm, đầu xuân - Trước ngày mổ thịt con lợn có nơi còn kiêng không cho ăn tạp mà được ăn uống như người: gạo, cơm, ngô, sắn, rượu… Trước ngày giết mổ còn được tắm lá quế, lá rừng thơm…
Do giao thông, giao lưu ngày càng phát triển nên con lợn nhỏ, ngoài là của cải trao đổi, cho vay, cho mượn, biếu xén trong thôn, trong bản còn là vật chất xuất khẩu qua các nước bạn láng giềng biên giới; Con lợn còn đóng vai trò quan trọng trong hôn lễ. Đồng bào Mường (Hoà Bình) có câu truyền miệng:
“Anh về thưa với mẹ cha
Bắt lợn sang cưới, bắt gà sang sêu
Cưới ta chín chục con trâu
Ba trăm con lợn đưa dâu tận nhà…”
Thách cưới không những do nhu cầu thực phẩm của các cuộc họp đông đúc vui vẻ mà vật nuôi còn được xem là tài sản quý giá, giàu sang của gia đình được đánh giá qua số lượng gia súc giết mổ, hiến tế trong các lễ hội, các cuộc tập trung nghĩa tình…
Như vậy con lợn nhỏ đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, tâm linh của đồng bào dân tộc miền núi. Tuy nhiên việc phát triển chăn nuôi con lợn còn nhiều hạn chế. Cần tổ chức lại sản xuất cho đồng bào dân tộc. Nơi nào bước đầu cũng phải xây dựng một đàn lợn có lợn nái cơ bản, có cơ cấu đực cái rõ ràng, có quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc vệ sinh, khoa học, dần dà tiến lên có quy mô hệ thống thụ tinh, phòng dịch, gia đình có khái niệm hạch toán, kiểm kê giá thành và trao đổi sản phẩm… Không thể giữ mãi con lợn nhỏ miền núi trong một quần thể lai tạo hỗn hợp không có định hướng. Thịt con lợn nhỏ còn là “miếng ngon” ưa chuộng. Có thể, tổ chức khéo sản xuất con lợn nhỏ miền núi sẽ trở thành hàng hoá đặc sản như nhiều đặc sản đã có khác của hương vị núi rừng.








