Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 25/03/2009 15:35 (GMT+7)

Còn đó văn hoá làng Việt

Cùng với việc đối mặt trước làn sóng toàn cầu hoá, những năm gần đây, đất nước ta đang đứng trước đòi hỏi lớn của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá mạnh mẽ.

Và, không ít người, trong cơn lốc ấy, đang bày tỏ nỗi băn khoăn, lo ngại cho sự mất còn của văn hoá làng Việt…

Làng Việt là một thực thể khá hoàn chỉnh và có thể được coi như là môi trường tổng hợp để người nông dân thể hiện quan niệm, thái độ và xúc cảm thẩm mỹ của mình. Được cố kết một cách khá tự nhiên theo hình thể địa lý, địa dư, dân cư và theo các cơ cấu tổ chức khác (xóm ngõ, tộc họ, giáp, phe, hội…), làng Việt, đến nay lưu giữ gần như nguyên vẹn môi trường cảnh quan thiên nhiên và môi trường xã hội vốn có theo từng tính chất mà nó có (làng nông nghiệp, làng ngư nghiệp, làng nghề thủ công…). Chính vì là sản phẩm được cấu kết trên sự kết hợp nhuần nhuyễn các nền tảng gồm hoàn cảnh địa lý tự nhiên, sự phân bố dân cư, điều kiện kinh tế xã hội, hệ thống thiết chế sinh hoạt vật chất, tinh thần, tâm linh… nên văn hoá làng Việt là thực tế quan trọng biểu hiện ý nghĩa nhân sinh và tính chất thẩm mỹ của con người, mà nổi bật là tính chất thẩm mỹ truyền thống cộng đồng nơi thôn dã.

Văn hoá và thẩm mỹ truyền thống cộng đồng được thể hiện ở sự tôn trọng và giữ gìn cảnh quan văn hoá làng. Đó có thể là cảnh quan tự nhiên (sông, núi, đầm, hồ, cây xanh, cánh đồng, luỹ tre, vườn cây…), lại có thể là cảnh quan xã hội (các thiết chế đình, chùa, đền miếu, nhà văn hoá, câu lạc bộ, trường học…). Đó có thể là sự giữ gìn môi sinh trong kiến trúc nhà ở, vệ sinh đường làng ngõ xóm, lại cũng có thể là sự giữ gìn môi trường sống, an ninh trật tự của làng xã. Đó có thể là sự đảm bảo tốt cả quá trình sản xuất lẫn tiêu dùng, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người trong làng xã, lại cũng có thể là sự đảm bảo trong lành một môi trường văn hoá tinh thần, tâm linh của con người trong cộng đồng… Các hương ước xưa và các quy ước làng văn hoá nay đều hết sức chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường sống (bảo vệ đất đai, làm thuỷ lợi, sử dụng nguồn nước, bảo vệ rừng đầu nguồn, làm phong quang đường làng ngõ xóm…). Nhờ những quy ước này mà làng xã không chỉ giữ gìn, làm đẹp cảnh quan tự nhiên, tạo cân bằng sinh thái mà qua đó, còn bộc lộ quan điểm thẩm mỹ của mình trong tạo dựng cái đẹp hài hoà với tự nhiên.

Văn hoá và thẩm mỹ truyền thống cộng đồng được thể hiện qua các mối quan hệ xã hội. Tính cộng đồng chặt chẽ là một đặc trưng của làng Việt, nhất là làng Việt Bắc Bộ. Hầu như, ở mỗi cá nhân, mọi chức năng và quyền hạn, mọi nghĩa vụ và quyền lợi đều được quy định theo một trật tự khá nghiêm ngặt, song tính hoà đồng giữa các vai trò lại được đánh giá cao vì ảnh hưởng của tính chất nền nếp chặt chẽ trong quan hệ gia đình, gia tộc. Chẳng hạn, không ít hương ước quy định rất rõ giới hạn, mức độ, tính chất trong cư xử giữa người này với người khác, khuyến khích giữ gìn thuần phong mỹ tục, khuyến khích dân làng ăn ở hoà thuận, tránh ăn gian nói dối, tránh gây thù chuốc oán. Có thể nói, dù còn có những biểu hiện trái chiều, nhưng rõ ràng môi trường văn hoá xã hội làng xã Việt truyền thống rất trong lành, yên bình. Điều này cũng bộc lộ quan niệm thẩm mỹ của người dân Việt là ưa hoà đồng, hoà thuận, bình yên.

Làng cổ Mông Phụ Văn hoá và thẩm mỹ truyền thống cộng đồng thể hiện qua môi trường văn hoá dân gian. Nói đến văn hoá cộng đồng làng xã truyền thống, không thể không đề cập tới bộ phận cấu thành cơ bản là văn hoá dân gian truyền thống. Cũng có thể coi các loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian đã tạo môi trường thẩm mỹ tốt đẹp, trong lành cho đời sống của người dân. Ca dao, hò về, hát giao duyên, diễn xướng dân gian, lễ hội, lễ Tết… là những gì gói ghém gần như trọn vẹn cuộc sống tinh thần của người dân làng quê Việt.

Họ không chỉ sống với công việc sản xuất, làm ăn; họ không chỉ chăm lo bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái mà họ còn trân trọng giữ gìn từng câu ca, điệu múa, từng tục lệ, tín ngưỡng như thể không có chúng, sẽ không còn đầy đủ cuộc sống của họ nữa. Nghĩa là, họ coi những di sản đó như là kết tinh giá trị văn hoá thẩm mỹ của cộng đồng. Nghĩa là ngoài môi trường sinh thái văn hoá làm giàu cho cuộc sống của họ. Bảo vệ và phát huy môi trường văn hoá này, như thế, là một thái độ thẩm mỹ.

Văn hoá và thẩm mỹ truyền thống cộng đồng được thể hiện qua môi trường văn hoá tâm linh. Thực ra, đây là đời sống tôn giáo, tín ngưỡng trong cộng đồng làng xã Việt. Con người, trong đời sống hữu hạn trần thế không chỉ quan hệ với thế giới hữu hình mà còn với thế giới vô hình (những điều chưa giải thích nổi, tổ tiên, thần thánh…). Mà thế giới vô hình này chi phối không nhỏ đời sống cũng như quan niệm thẩm mỹ, quan niệm văn hoá của người dân. Tục thờ cúng tổ tiên, tục thờ cha, thờ mẫu, thờ các nhiên thần (mây, mưa, gió, sấm chớp, thần sông, thần đất…), nhân thần… là biểu hiện sự tôn trọng đối với sợi dây liên hệ giữa người sống và người đã khuất, giữa quá khứ - hiện tại và tương lai, giữ truyền thống với hiện đại. Kéo thần thánh xuống cùng sống với con người, thờ phụng người khuất bóng để nhằm cầu mong an khang, thịnh vượng cho người đang sống là một cách thể hiện quan niệm thẩm mỹ của người dân Việt… Như thế, đời sống tâm linh, rốt cuộc cũng lại trở thành một môi trường văn hoá bao bọc con người.

Như thế, văn hoá làng Việt được thể hiện qua môi trường tổng thể gồm các môi trường tự nhiên, xã hội, tinh thần và tâm linh. Quan niệm thẩm mỹ của người dân Việt là hoà đồng và tôn trọng cái đẹp tự nhiên, thích ứng và cải biến trên cơ sở cái đẹp tự nhiên. Quan niệm và cảm thức này bộc lộ trong việc tổ chức cộng đồng, phân bố dân cư, bảo vệ cảnh quan tự nhiên; trong việc tổ chức xã hội và đời sống văn hoá; trong việc ứng xử với thần thánh và những người đã khuất. Truyền thống xây dựng các hình thức làng xã, xây dựng cảnh quan đường làng ngõ xóm, sự hình thành nếp ăn, mặc, ở, làm việc; xây dựng văn hoá làng (văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể), xây dựng biểu tượng văn hoá tâm linh… đã có từ lâu đời. Giản dị, tự nhiên, hài hoà, thích ứng… là những đặc điểm thẩm mỹ đáng chú ý trong truyền thống văn hoá cộng đồng Việt. Đặc trưng này khó thể phá bỏ, ngay cả khi làng Việt bị cuốn vào cơn lốc đô thị hoá.

Hiện tại trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá, vấn đề văn hoá làng cũng như thẩm mỹ môi trường truyền thống đang bị đặt trước nhiều thách thức. Địa lý tự nhiên, cảnh quan làng xóm, môi trường sinh thái, quan hệ xã hội, đời sống văn hoá vật chất và tâm linh… đang biến động và đứng trước nhiều thách thức. Chuyển đổi thế nào để văn hoá làng giữ được sự trong sạch, hài hoà của nó, không phải là điều dễ dàng. Trong sự chuyển đổi ấy, không thể không chú ý tới quan niệm, cảm thức, khiếu thẩm mỹ truyền thống của người dân Việt như là một cốt lõi của lối sống trong làng Việt. Đó là lối sống hoà nhập, thích ứng, hài hoà với tự nhiên và xã hội; đó là sự cải biến để tăng trưởng chứ không phải để suy thoái môi trường tự nhiên và xã hội. Không ít bài học về sự cải biến nóng vội, làm ô nhiễm môi trường địa lý tự nhiên, môi trường xã hội nhân văn, môi trường tâm linh đã đặt ra trước mắt. Không ít tiếng kêu cứu về sự suy thoái văn hoá, suy thoái môi trường sống đang vang lên. Và đó chính là lúc văn hoá làng, với tư cách là bầu khí quyển của trên dưới 70% người dân Việt, bị xâm hại.

Cho nên, trong khi đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, người ta vẫn không nên quên ngoái nhìn một mái rạ bên luỹ tre làng, một cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay, một mái đình, cây đa, giếng nước, một vốn quý văn hoá dân gian còn đầy ắp nơi hương thôn, một đời sống tâm linh hài hoà, nồng đượm chất quê… Phải chăng chính những di sản ấy là cái tiếp thêm sức để ta có thể tiến nhanh mà không phải trả giá đắt.

Với những người xa quê, sự nồng đượm của văn hoá làng và thẩm mỹ môi trường truyền thống Việt, một lúc nào đó, chợt gợi thêm nhiều ý nghĩa.

Làng cổ Mông Phụ

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Quyết định số 185-QĐ/TW: Bộ Chính trị giao 1.878.362 biên chế năm 2026
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026, về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.
VUSTA - cầu nối thúc đẩy hợp tác khoa học, giáo dục giữa cơ sở đào tạo của Việt Nam và Tatarstan
Chiều ngày 08/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cùng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã có cuộc làm việc, trao đổi trực tuyến với Bộ Giáo dục và Khoa học Cộng hòa Tatarstan (Liên bang Nga) cùng đại diện nhiều viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu của Tatarstan nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục đào tạo.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: VUSTA luôn ủng hộ, hỗ trợ Hội Cơ học Việt Nam tổ chức các sân chơi bổ ích cho sinh viên
Ngày 07/6/2026, tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Hội Cơ học Việt Nam đã long trọng tổ chức Lễ Tổng kết và Trao giải Olympic Cơ học toàn quốc lần thứ 36 năm 2026 khu vực phía Bắc. Đây là sự kiện thường niên có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá kết quả kỳ thi, biểu dương những thành tích nổi bật của sinh viên, giảng viên và các cơ sở đào tạo trên cả nước.
Bắc Ninh: Ông Ngô Chí Vinh giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội Khóa I
Trong 02 ngày 05 và 06/6, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026-2031. Phiên thứ nhất của Đại hội diễn ra chiều ngày 05/6; phiên chính thức được tổ chức vào sáng ngày 06/6/2026 với sự tham dự của đông đảo đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh.
Hải Phòng: Xác định tiêu chí chuyên gia, nhà khoa học người nước ngoài
Sáng 05/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) thành phố Hải Phòng đã tổ chức hội thảo tư vấn, góp ý vào dự thảo Nghị quyết quy định tiêu chí đối với người nước ngoài là chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao làm việc tại doanh nghiệp có trụ sở chính trong Khu thương mại tự do thành phố Hải Phòng.
Thủ tướng Lê Minh Hưng hội đàm với Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone
​Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, chiều 7/6, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Sonexay Siphandone dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Lào đến Thủ đô Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam và tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 từ ngày 7-9/6.