Chuyện cầu hiền
Trong thể chế chính trị của một đất nước mà “quyền hành và lực lượng đều nơi dân”, thì Quốc hội được trao quyền “cao nhất” chứ không phải là “tất cả”, không phải là “toàn bộ”. Tất cả và toàn bộ quyền lực là ở nhân dân và chỉ ở nhân dân mà thôi. Dân đã làm xong nhiệm vụ trao quyền, uỷ quyền của mình cho bộ máy Nhà nước, một vài gương mặt trẻ, tuy chưa nhiều như mong muốn, song cũng đã khởi sắc những kỳ vọng về những bước bứt phá sẽ được tạo ra. Tiếp theo đây, sử dụng toàn bộ quyền lực của mình, nhân dân sẽ theo dõi, giám sát để quyền của mình đã được trao mà không bị mất, vấn đề gay cấn nhất không chỉ của nhân dân ta, mà là vấn đề muôn thuở của loài người. Biết bao tâm huyết của các nhà tư tưởng lớn, biết bao bút mực đã dành cho tư tưởng lớn ấy qua các trang sách của nhiều thời đại khác nhau về điều quan trọng đã thành nghịch lý đó.
Vì trong thực tế, không hiếm những sự tiếm quyền để giành lấy độc quyền, đặc quyền theo kiểu “nhà nước là ta”. “Ta” có thể là một cá nhân, một nhóm quyền lực, một tổ chức biệt phái có quyền thao túng và có khi bị thao túng bởi một vài cá nhân hoặc của một nhóm quyền lực. Vì thế, thực thi vai trò đại biểu cao nhất và quyền lực của nhà nước cao nhất vủa Quốc hội phải gắn liền với việc phát huy tất cả toàn bộ quyền lực của nhân dân, điều này có ý nghĩa sống còn với đất nước ta.
Hồ Chí Minh là người hiểu rất rõ điều ấy bằng sự quan sát và sự trải nghiệm của chính mình trên nhiều nước phương Tây và nhà nước Xô Viết. Khi vận dụng sự hiểu biết về nhà nước vào thực tế nước mình, một đất nước mà truyền thống nhà nước quan liêu rất nặng, con đường thăng tiến xã hội duy nhất là hoạn lộ, cho nên, người đặt nền tảng cho Nhà nước pháp quyền cũng là người tuyên bố Nhà nước ấy là công bộc của dân, là đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đây không chỉ nhằm ngăn chặn ngay từ đầu nguy cơ tha hoá của quyền lực nhà nước trở thành nhà nước đè đầu cưỡi cổ dân, nhà nước hành dân, mà còn là sự tấn công trực diện vào tâm lý thích làm quan vốn ăn sâu, bám rễ vào kết cấu hạ tầng tâm lý xã hội của xã hội Việt Nam.
Bởi lẽ, với triết lý nông vi bản và miệt thị thương nhân, để thoát khỏi cảnh chân lấm tay bung của nghề đi cày, thì chỉ có một cách là cố cho con đi học để qua con đường cử nghiệp mà tiến thân vào chốn quan trường. Đó là con đường béo bở nhất, vừa có địa vị xã hội cao lại vừa có bổng lộc. Rồi một người làm quan cả họ được nhờ. Miệng nhà quan lại có gang có thép. Muốn nói gì thì nói, trong xã hội ấy, được làm quan, được là một ông quan, chính là khát vọng đổi đời, là lý tưởng một đời. “Một ngày tựa mạn thuyền rồng còn hơn nửa kiếp sống trong thuyền chài”! Một kết luận có phần cực đoan của một nhà nghiên cứu người Pháp trước đây rằng trong mỗi người Việt Nam có lẽ cũng có phần nào sự thật. Chẳng thế mà chỉ mới gần đây thôi, trước khi doanh nhân được đề cao, lập doanh nghiệp để làm ông chủ là một hướng thăng tiến xã hội mới mở ra cùng với sự công nhận nền kinh tế thị trường, thì vào biên chế Nhà nước vẫn là hướng duy nhất để mơ ước về thăng tiến xã hội. Để hiểu được sự tha hoá quyền lực ở nước ta sao mà nặng nề và trầm trọng đến vậy, cần phải tìm về trong những gốc gác lịch sử ấy.
Các đại biểu Quốc hội, các chức danh Nhà nước và các thành viên Chính phủ, tạm gọi chung là các chính khách, khái niệm quen dùng ở các quốc gia để chỉ những người hoạt động chính trị chuyên nghiệp, được tuyển chọn từ những người ưu tú trong nhân dân. Gọi họ là bộ phân tinh hoa của đất nước, trong chừng mực nào đó, cũng hợp với lẽ thường. Nhưng nếu cho rằng tinh hoa của đất nước thể hiện tất cả ở đấy thì không gì sai hơn và nguy hơn. Vì như thế là gieo cái mầm tự huyễn rất tai hại cho những người, mà hơn ai hết, họ phải biết tìm thấy sức mạnh của mình trong nhân dân. Nếu tạo ra sự ngộ nhận đó là cắt đứt nguồn mạch trí tuệ và sinh lực của họ với dòng chảy bất tận của cuộc sống nhẫn nại, sôi động, quyết liệt và không một giây ngừng nghỉ của nhân dân. Chính dòng chảy bất tận đó đã sản sinh và nuôi dưỡng hiền tài mà các cụ ta gọi là nguyên khí quốc gia.
Vì thế, nói như một Bộ trưởng khi trả lời nhà báo, để thực hiện được trọng trách vừa được giao phó phải biết cách vượt lên chính mình là hoàn toàn chính xác. Bởi lẽ, có người biết một phải nói mười, dần dà, lộng giải thành chân, tưởng cái gì mình cũng biết, đó là tự huỷ hoại mình một cách nhanh nhất. Sẽ không thừa khi nhắc lại lời răn của Khổng Tử: “tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã” (Biết điều gì thì nhận là biết, không biết thì nhận là không biết, chính là biết). Biết là mình phải học cái mình chưa biết là cực kỳ quan trọng, đặc biệt đối với một người gánh trên vai mình gánh nặng với dân, với nước. Song, còn quan trọng hơn nữa, là biết dùng người, khó hơn nữa, là biết dùng người giỏi hơn mình, nói theo ngôn ngữ hiện đại là biết sử dụng chuyên gia.
Lưu Bị biết dùng Khổng Minh được coi là một ví dụ điển hình trong lịch sử. Trong bộ truyện Tam quốc diễn nghĩa, đoạn “ Huyền Đức tam cố thảo lư” là một trong những đoạn được người đời cho là hay nhất. Mà hay, là vì trước đó có đoạn “ Tào Tháo luận anh hùng”. Khi Tháo nói rằng, “ Anh hùng là người trong bụng có chí lớn, có mưu cao, có tài bao trùm cả vũ trụ, có chí nuốt cả trời đất” để kết luận rằng “Anh hùng thiên hạ bây giờ chỉ có sứ quân và Tháo mà thôi”. Nghe vậy Lưu Bị sợ mất vía, đánh rơi cả thìa đũa đang cầm trên tay. Sợ mất vía, vì như vậy cũng có nghĩa là Tào Tháo sẽ phải giết mình theo cái lẽ, “ bất độc, bất anh hùng”, anh hùng thì chỉ có một và chỉ một mà thôi. Cũng chính vì thế, các bậc danh sĩ trong thiên hạ thường tìm cách ẩn mình. Muốn cầu người hiền, Lưu Bị phải ba lần gội tuyết, đội gió đến lều cỏ của Khổng Minh là vì thế. Mà đâu chỉ một Khổng Minh. Chỉ riêng trên đất Dĩnh, nơi Khổng Minh ở ẩn, cũng đã có đến bốn người tài, trong đó có Từ Thứ, đấy là chưa nói đến Tư Mã Huy, người đã giảng giải cho Lưu Bị nhiều điều về cái lẽ hiền tài nơi đất Dĩnh ấy, và khi ra khỏi cửa đã ngẩng mặt lên trời mà cười to rằng: “ Ngoạ Long tuy gặp chủ, nhưng không gặp thời, tiếc lắm thay!”. Thật có lý khi người đời cho rằng Tư Mã Đức Tháo mới đích thực là một cao danh ẩn tích, đã quá thấu hiểu chữ “thời” nên không chịu dấn thân. Vì nhiều hiền tài không chịu dân thân, nên người muốn gây nghiệp lớn phải biết cầu hiền”.
Lê Thái Tổ, sau mười năm nằm gai nếm mật để lấy lại giang sơn lên ngôi đại định, liền ban chiếu cầu hiền. Chiếu có đoạn: “ Nay trẫm gánh vác trách nhiệm nặng nề , sớm khuya kính cẩn lo sợ, như đứng bờ vực thẳm, chỉ vì chưa tìm kiếm được người hiền tài giúp đỡ trị nước… Nhân tài ở đời cố nhiên là không ít, nên đường lối tìm người tài không chỉ có một phương. Nếu ai ôm ấp tài lược kinh bang tế thế, nhưng phải chịu khuất ở hàng quan thấp, không có người tiến cử cho, cùng là những hào kiệt bị vùi dập ở bụi bờ, hay lẫn lộn trong quân ngũ, nếu không tự đề đạt thì trẫm làm sao biết được…? Khi chiếu này ban ra, các quan hãy đem hết lòng thành, lo việc tiến cử. Còn như kẻ hàn vi ở chốn hương thôn, cũng chớ cho thế là phải đem ngọc bán rao mà hổ thẹn, để trẫm phải thở than vì thiếu nhân tài”.
Phải tầm cỡ văn tài và đức độ của Nguyễn Trãi mới soạn nổi tờ chiếu đó. Dự phòng phải tránh chuyện “đem ngọc bán rao” là để chạm được đến chỗ sâu kín trong tâm lý tự trọng của “kẻ sĩ”, phải là sự uyên bác của nhà văn hoá lớn đi liền với sự trải nghiệm sâu sắc của nhà chính trị lớn. Có được cái đó cho nên, ngay khi chính quyền cách mạng còn trong trứng nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thiết tha kêu gọi: “ Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”. Không thể có sự “Thừa nhận” đó nếu không có cái tâm vì nước vì dân và cái tầm nhìn của người lãnh đạo biết rõ ngọn nguồn sức mạnh của mình được dồn góp và chưng cất từ trí tuệ và khát vọng của quần chúng nhân dân.
Xưa nay kẻ sĩ có thực tài và biết tự trọng thường chọn cách ứng xử “dụng chi tắc hành, xã chi tắc tàng” (được dùng thì ra làm việc, không được dùng thì lui về) thể hiện một quan niệm sống, một thái độ sống. Quyết định chuyện “xuất” và “xử” của “kẻ sĩ” gắn liền với thời cuộc, “thiên hạ hũu đạo tắc hiện, thiên hạ vô đạo tắc ẩn”, có đạo thì ra, vô đạo thì ẩn. Bởi lẽ “gặp lúc nước hữu đạo mà nghèo và hèn là đáng thẹn, gặp lúc nước vô đạo mà giàu sang là đáng thẹn”. Hữu đạo và vô đạo nói ở đây có nội hàm khá rộng. Song trực tiếp nhất và cập nhật trong bối cảnh “hiện đại”, chính là cái tâm của người lãnh đạo có thật lòng trọng dụng hiền tài, trọng dụng trí thức không.
Vả chăng: “ đường lối tìm người tài không chỉ có một phương” như Chiếu cầu hiền của Vua Lê đã viết. Sức nam châm có lực hút hiền tài, trí thức là độ rộng mở của dân chủ và công khai trong việc tạo ra môi trường để cho những tài năng thật sự có thể phát huy trong sự nghiệp phát triển đất nước. Thật chí lý và đáng mừng khi người lãnh đạo hôm nay khẳng định được rằng “ phải thật sự công tâm, khách quan và đặc biệt là phải thật sự dân chủ; vì không dân chủỉ, hay chỉ dân chủ hình thức thì không chọn được người tài”. Thật không dễ để thấy được: “ Có cạnh tranh, có cơ chế thị trường thật sự thì mới xem xét được ai là người tài. Người tài không chỉ thể hiện ở bằng cấp hay ở lời nói, mà quan trọng là ở việc làm” *. Nhận thức đó bắt gặp được sự vận động của thực tiễn.
Dòng sông cuộc sống đang miệt mài tuôn chảy chẳng phút giây ngừng nghỉ, không theo trình tự tuyến tính mà luôn nảy sinh những tương tác mới tạo ra những hợp trội không dự báo trước được. Trong dòng chảy miệt mài với những hợp trội ấy, kiểu tư duy tuyến tính, những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống trong rất nhiều tình huống đã không còn đủ sức cho hành trình của dân tộc trên con đường phát triển và hội nhập. Phát triển luôn luôn là tự phát triển trong tiến trình tiến hoá tạo nên những thuộc tính hợp trội vừa nói, được thực hiện bằng các cơ chế thích nghi qua sự tương tác của hệ thống. Tiến hoá qua cơ chế thích nghi không chỉ biểu hiện bằng cạnh tranh sinh tồn và chọn lọc Tự nhiên, mà còn bằng hợp tác và cùng phát triển.
Chính sự đa dạng của tiến hoá như vậy tạo nên sự đa dạng, phong phú rất phức tạp, song cũng hết sức sinh động của cuộc sống. Cuộc sống nói chung và cuộc sống của con người trong xã hội. Mà xã hội của con người lại là một hệ thích nghi cực kỳ phức tạp, trong đó, các thành phần khác nhau, những yếu tố đối lập, tuỳ theo sức hút của mục tiêu chung, thì không nhất thiết phải đối đầu theo kiểu tư duy “ai thắng ai”, dẫn đến một kết cục phải thanh toán lẫn nhau để giành quyền thắng, mà thông qua những tương tác có tính hợp trội còn có thể tìm được khả năng cùng thắng. Cuộc sống không thiếu những ví dụ sinh động, đầy sức thuyết phục làm bước phát triển mới của tiến trình hội nhập quốc tế cho thấy điều đó. Chính vì thế, người gánh vác trọng trách với đất nước luôn phải tự nhìn lại mình, thấy ra được sự hạn hẹp của nhận thức đã có, nhặt bỏ những thô thiển, sai lầm, những ngộ nhận, nhằm không ngừng bổ sung tri thức mới để có được tầm nhìn mới sát với sự vận động của sự sống.
Những ai chần chừ tin rằng tương lai là sự tiếp tục đơn thuần của quá khứ, sẽ cảm thấy mình bị hụt hẫng trước sự thay đổi mà có lẽ quá muộn để tránh được điều không thể tránh khỏi. Cũng sẽ là quá muộn nếu không dám có những suy nghĩ táo bạo, những tìm tòi mạnh dạn, những bung phá sáng tạo để tìm ra những bước đi và cách đi phù hơp với thực tế của đất nước. Những phẩm chất đó, từng người có thể có được phần nào, song thông thường phải là sự tập hợp trí tuệ và king nghiệm của nhiều người.
Một Chính phủ mạnh nếu từ người đứng đầu cho đến mỗi thành viên biết cách khơi gợi và tập hợp quanh mình những hiền tài, biết cách khai thác, sử dụng và phát huy trí tuệ và kinh nghiệm của những chuyên gia giỏi. Thời đại “anh hùng thì chỉ có một và chỉ một mà thôi” đã lùi về dĩ vãng lâu rồi. Những thành tựu kỳ diệu của cách mạng khoa học và công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin, một thế giới của Internet nối mạng toàn cầu đã làm thay đổi diện mạo của thế giới. Chữ “thời”, vì thế, cũng cần có cách nhìn nhận mới. Vì rằng, ở mọi nơi, các hệ thống thứ bậc đang bị thách thức từ dưới, vì vậy, hệ thống cấu trúc theo chiều dọc và phải tự biến đổi thành cấu trúc theo chiều ngang và có tính cộng tác hơn để tạo ra nhiều giá trị hơn. Đặc điểm cấu trúc này bắt gặp với tư tưởng Hồ Chí Minh về một cấu trúc xã hội và thể chế chính trị trong đó “quyền hành và lực lượng đều nơi dân” nói ở trên.
Tư Mã Đức Tháo có sống lại chắc cũng không phải ngửa mặt lên trời mà tiếc cho hiền tài vướng luỵ bởi chữ thời trong một “thế giới đã trở nên phẳng” do nhu cầu của tự biến đổi cấu trúc đã tạo ra nhiều đột biến chưa có tiền lệ. Và có lẽ, vị cao danh ẩn sĩ ấy chắc sẽ nhắc đến chữ khiêm của Lão Tử. Người biết khiêm là biết tự cao lớn mà không tranh đoạt với ai. Đạo đức kinh có đoạn: “ Đạo trời không tranh mà khéo thắng” (thiên 73), “ Không tranh với ai nên không ai tranh với mình” (thiên 66), “ Nước khéo làm lợi cho vạn vật mà không tranh với vật nào, biết ở chỗ mọi người ghét [chỗ thấp] cho nên gần gũi với đạo” (thiên 8). Khiêm thì không muốn ở trên người, cũng không muốn ở trước người [bất cảm thiện hạ tiên]. Song nhờ tự đặt mình ở sau người mà thân lại ở trước [hậu kỳ thân nhi thân tiên] (thiên 7). Muốn cầu hiền, muốn quy tụ và phát huy hiền tài thì phải biết đề cao chữ khiêm.
“ Đòi hỏi bức bạch của toàn dân tộc ta lúc này là phải tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn, phát triển với tốc độ nhanh hơn và bền vững hơn”. Để đáp ứng đòi hỏi bức bách mà Đại hôi X chỉ ra, hơn lúc nào hết, phải tạo được sự đồng thuận xã hội làm động lực cho phát triển. Nòng cốt của sự đồng thuận đó là quy tụ được hiền tài, tập hợp được trí thức.
* VietNamnet, ngày 9 - 2 - 2007. Về cuộc đối thoại trực tuyến giữa người đứng đầu Chính phủ với Nhân dân.








