Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 09/02/2007 00:48 (GMT+7)

Chương trình tiết kiệm năng lượng trong sản xuất của tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam

Điều kiện môi trường làm việc của các thiết bị hết sức khắc nghiệt, với các mỏ lộ thiên là thời tiết nắng, mưa, nhiệt độ môi trường luôn thay đổi, với các mỏ hầm lò là không gian chật hẹp, độ ẩm cao, khí, bụi nổ và khí độc nhiều. Các thiết bị xây dựng và khai thác mỏ thường bố trí phân tán trên toàn bộ khai trường mỏ, do vậy hệ thông đường dây, TBA khu vực cũng luôn phải di chuyển và phân tán.

Từ những đặc điểm của công nghiệp sản xuất than nêu trên, để vận hành hệ thống điện đảm bảo an toàn, hiệu quả và tiết kiệm đòi hỏi rất nhiều cố gắng của các mỏ, các công ty và tập đoàn TKV. Trong thời gian qua Tập đoàn đã làm được một số việc trong chương trình “Sử dụng năng lượng điện hiệu quả và tiết kiệm” theo Nghị định số 102/2003/NĐ-CP của Chính phủ về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

I.Các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Sản xuất tiết kiệm, hiệu quả để tăng trưởng là phương châm hành động của Tập đoàn trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ sản xuất. Tiết kiệm các chi phí trong đó có điện năng được Tập đoàn và Công ty triển khai từ nhiều năm qua và đã thu được những kết quả nhất định góp phần giảm chi phí, giảm giá thành, tăng lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh.

Cùng với tăng trưởng của sản lượng than, hằng năm lượng điện năng tiêu thụ cho sản xuất than trong Tập đoàn cũng tăng theo, song do áp dụng nhiều biện pháp tích cực nên suất tiêu thụ điện cho một tấn than nguyên khai liên tục giảm so với kế hoạch và các năm trước.

Nhìn chung các công ty sản xuất than trong Tập đoàn đều có giải pháp nhằm sử dụng năng lượng điện một cách tiết kiệm và hiệu quả. Các giải pháp tập trung ở một số lĩnh vực sau.

1.Hợp lý hóa sản xuất trong dây chuyền công nghệ

1.1. Bố trí các TBAKV gần trung tâm phụ tải và thay các TBA vận hành non tải. Với các mỏ, các phụ tải luôn di chuyển và thay đổi do vậy việc tính toán, xác định vị trí và công suất TBA luôn được quan tâm, nó làm giảm tổn hao và cải thiện điều kiện làm việc của thiết bị.

1.2 Lắp bổ sung, điều chỉnh tụ bù cho các TBA 35/6KV và 6/0,4 KV nâng cao hệ số công suất, giảm tổn hao cho MBA (các Công ty than Hà Tu, Mông Dương, Mạo Khê, Dương Huy, Cọc Sáu…)

1.3. Đầu tư các thiết bị công suất lớn thay nhiều thiết bị công suất nhỏ như máy bơm thoát nước, quạt gió cục bộ, trạm nén khí cố định…

1.4. Thay dần hệ thống vận tải không liên tục (tàu điện kéo goòng) bằng hệ thống tải liên tục (băng tải, máng cào) trong các đường lò vận tải, đặc biệt cho các giếng nghiêng vận tải chính.

1.5. Bố trí lưới chiếu sáng hợp lý, tập trung các điểm cần thiết, điều chỉnh thời gian chiếu sáng hợp lý theo mùa.

1.6. Sử dụng các máy phát điện nhỏ cho các phụ tải độc lập, xa nguồn, sử dụng không liên tục: chiếu sáng các bãi thải mỏ lộ thiên.

1.7. Sử dụng các thiết bị cơ giới hóa, đồng bộ, có năng suất đào lò và khai thác than như máy Combai đào lò, Combai khai thác kết hợp dàn chống tự hành….

2.Các giải pháp trong điều chỉnh sản xuất

2.1. Ngày 27/10/2005 tại thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh, Bộ Công nghiệp và Tổng công ty Than Việt Nam đã tổ chức hội thảo “ Sử dụng năng lượng điện tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất của Tổng công ty Than Việt Nam”. Hội thảo đã được nghe các nhà khoa học của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Mỏ- Địa chất, Vụ KHCN Bộ Công nghiệp, các đơn vị Tổng công ty Than Việt Namtrình bày và trao đổi giải pháp để sử dụng năng lượng điện tiết kiệm của Tổng công ty than Việt Nam .

2.2. Ngày 22/11/2005 Tổng Giám đốc Tập đoán Than Việt Nam (nay là Tập đòan Công nghiệp Than- Khoáng sản Việt Nam) đã ban hành chỉ thị số 08/CT- CĐM “Về việc sử dụng năng lượng điện tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất”, theo đó Tổng Giám đốc yêu cầu tất cả các đơn vị thành viên triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị định số 102/2003/NĐ-CP ngày 03/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ “Về việc sử dụng năng lượng điện tiết kiệm và hiệu quả”, trên cơ sở các giải pháp đã áp dụng rộng rãi, phối hợp các đơn vị khác tìm thêm các giải pháp để tiết kiệm chi phí điện năng… và Tổng giám đốc quyết định “chi phí điện năng năm 2006 của các đơn vị đã được Tổng Công ty Than Việt Nam duyệt theo kế hoạch KTCN nay điều chỉnh giảm 10%”.

2.3. Bố trí dây chuyền sản xuất hợp lý, phát huy hết năng lực thiết bị, không để máy xúc chờ ô tô (trong dây chuyền bốc xúc, vận tải đất đá- than ở các mỏ lộ thiên), không để thiết bị làm việc non tải.

2.4. Lập biểu đồ phụ tải hang ngày để theo dõi và điều hành sản xuất hợp lý.

2.5. Chỉ bơm thoát nước các moong khai thác than ở giới hạn an toàn cho người và thiết bị làm việc trong mùa mưa.

2.6. Khoán chi phí điện năng cho từng công đoạn trong dây chuyền sản xuất, lắp đồng hồ điện năng để theo dõi, có quy chế thưởng, phạt trong sử dụng điện.

2.7. Hạn chế các thiết bị điện công suất lớn làm việc vào các giờ cao điểm (bơm thoát nước moong) và huy động tối đa các thiết bị làm việc vào giờ điểm thấp trong ngày.

2.8. Quy hoạch và củng cố hệ thống mương thoát nước trên khai trường, hạn chế lượng nước mưa chảy xuống lòng moong.

2.9. Xây dựng và ban hành nội quy sử dụng tiết kiệm điện trong tất cả các đơn vị.

2.10. Tăng cường hệ thống thông tin liên lạc (bộ đàm) hỗ trợ khi theo dõi và điều hành sản xuất, để có thể điều chỉnh kịp thời và hợp lý các phụ tải điện đảm bảo an toàn, tránh các ách tắc và bảo đảm yêu cầu sản xuất.

2.11. Thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá tình trạng kỹ thuật trong công tác cung cấp và sử dụng điện, đưa ra các giải pháp kỹ thuật để củng cố, cải tạo lưới điện, đảm bảo an toàn, giảm tổn thất và tiết kiệm điện.

2.12. Sử dụng các đèn chiếu sáng có hiệu quả chiếu sáng cao: Đèn Halogen, đèn Compac, đèn thủy ngân cao áp…thay cho các đèn sợi đốt có công suất lớn.

2.13. Với các công ty SX Cơ khí: tập trung sản xuất vào ca I, hạn chế chiếu sang công nghiệp đến mức thấp nhất.

3.Cải thiện điều kiện làm việc của thiết bị sử dụng điện

3.1. Thực hiện đúng chế độ kiểm tra, bảo dưỡng định kỳ các thiết bị luôn ở trạng thái làm việc tốt nhất.

3.2. Tăng cường đào tạo, huấn luyện thợ vận hành đúng đủ quy trình.

3.3. Đảm bảo chất lượng sửa chữa thiết bị.

3.4. Thay thế, sử dụng các thiết bị bảo vệ có độ tin cậy cao(máy cắt Schneider, rơle kỹ thuật số…) được kiểm định định kỳ tốt, đảm bảo bảo vệ chọn lọc, không ảnh hưởng đến lưới điện chung, đảm bảo cho lưới cung cấp và ổn định.

3.5. Không để thiết bị làm việc không tải, quy định tắt máy khi nghỉ giữa các ca hoặc không có việc.

3.6. Cải thiện điều kiện làm việc của các thiết bị (thay thế đường ống đẩy các trạm bơm thoát nước bằng ống nhựa có sức cản nhỏ hơn; cải tạo hệ thống cửa gió trong các hầm lò giảm sức cản của quạt thông gió…)

3.7. Cải tạo các tuyến đường dây điện đã cũ, nát (thay dây dẫn, sứ đỡ…)

3.8. Thay các động cơ làm việc non tải (băng tải, máng cào, quạt gió mỏ, máy nghiền than…)

3.9. Rà soát thanh lí các động cơ, các thiết bị điện đã quá cũ , sửa chữa nhiều lần, hoạt động không hiệu quả.

4.Áp dụng các tiến bộ kỹ thuật

4.1. Nâng cao điện áp sử dụng trong mỏ hầm lò từ 380V lên 660V và 1140V, đây là biện pháp hầu hết các mỏ hầm lò áp dụng vừa giảm tiêu hao điện năng vừa cải thiện điều kiện làm việc lưới điện. Các Công ty than Mông Dương, Khe Chàm, XN Nam Mẫu (Công ty Than Uông Bí)… gần như hoàn thành việc nâng cấp điện áp này. Theo số liệu tính toán sơ bộ của công ty Than Mông Dương việc nâng cấp điện áp giúp công ty tiết kiệm được 338.648 kWh/ năm.

4.2. Sử dụng bộ khởi động mềm và biến tần cho các động cơ suất lớn hoặc cần điều chỉnh tốc độ; đây là các thiết bị mới đã sử dụng rộng rãi ở các nước, nhưng nghành than hiện nay mới chỉ có một số công ty sử dụng thử nghiệm (TT Cửa Ông, công ty Than Đèo Nai, Núi Béo, Mông Dương, Thống Nhất, Công ty TNHH MTV Chế tạo máy TVN…).

4.3. Sử dụng rơle kỹ thuật số tự động ngắt và điều chỉnh giờ chiếu sáng theo mùa.

4.4. Thay thế các thiết bị hiệu suất thấp (của Liên Xô cũ )bằng các thiết bị mới theo tiêu chuẩn cao như các máy hàn điện, máy gia công cơ khí, hệ thống gia nhiệt…(Công ty Công nghiệp ô tô – TKV)

II.Các giải pháp tiếp tục trong thời gian tới

1. Tiếp tục theo dõi các giải pháp đã triển khai, đánh giá hiệu quả để nhân rộng trong toàn Công ty, Tập đoàn.

2. Tiếp tục triển khai nâng cấp điện áp 660V và cao hơn trong các hầm lò, không còn sử dụng cáp điện áp 380V vào cuối năm 2006.

3. Đánh giá hiệu quả và tiếp tục triển khai áp dụng các thiết bị khởi động mềm, biến tần cho các đối tượng có thể áp dụng được.

4. Xây dựng kế hoạch đầu tư các thiết bị mới, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mang lại hiệu quả trong việc sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả.

5. Tiếp cận với các thiết bị mới, công nghệ mới nhằm sử dụng năng lượng điện tiết kiệm và hiệu quả.

6. Tìm kiếm các nhà tư vấn về kỹ thuật – an toàn trong quá trình đầu tư và sử dụng các thiết bị, công nghệ tiết kiệm năng lượng điện.

Nguồn: Công nghiệp mỏ, số 5-2006

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Khai mạc hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8
Với chủ đề “Tự động hoá thông minh - công nghệ chiến lược của Kỷ nguyên số”, hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8 (VCCA 2026) đã khai mạc sáng 16/7 tại Trường Đại học Quy Nhơn (tỉnh Gia Lai). Sự kiện quy tụ gần 400 trăm nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp trong nước và quốc tế nhằm chia sẻ các xu hướng công nghệ chiến lược.
Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới"
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới". Trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị.
Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.