Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 30/06/2009 00:16 (GMT+7)

Chữ Quốc ngữ thời kỳ phôi thai

Cha Bề trên Buzomi và hai linh mục của giáo đoàn ông là Pina và Borri là những giáo sĩ Dòng Tên đi tiên phong trong việc sáng chế ra chữ Quốc ngữ, thời gian đầu đến Việt Nam, sống, hoạt động truyền giáo và học tập, nghiên cứu phiên âm chữ Quốc ngữ đều ở Nước Mặn. Do đó, có thể coi Nước Mặn là điểm khởi nguyên, nơi phôi thai chữ Quốc ngữ (1). Và người ta đã ấn định giai đoạn đầu tiên, giai đoạn phôi thai chữ Quốc ngữ từ năm 1620 – 1626.

Thành ngữ chữ “Quốc ngữ” theo nguyên từ Hán - Việt là “tiếng nói của người Việt”. Thực ra, đây là một lối viết tiếng Việt khác với chữ Hán được sử dụng chính thức trong nhiều thế kỷ. Việc áp dụng một lối viết để đọc tiếng Việt khởi thuỷ là chữ Nôm, hệ thống chữ viết này lấy từ cách viết chữ Hán. Nhưng từ đầu thế kỷ XX, thành ngữ “Quốc ngữ”, nhằm nói đến lối viết tiếng Việt theo mẫu tự Latin. Chữ Quốc ngữ ấy được xây dựng trên căn bản vần Latin được bổ túc bởi hai kiểu mẫu – âm tiêu biểu nhằm thích ứng với tính đa dạng của các âm tố tiếng Việt, và để ghi chép rõ nét các âm (2).

Năm 1651, ba tác phẩm rất quan trọng về lịch sử tiếng Việt Nam đã được xuất bản tại Roma: Cuốn giáo lý Latin và Quốc ngữ đối chiếu Cathechismus pro iis qui volunt suscipere Baptismum in octo dies divisus;Cuốn tự điển Việt - Bồ - La Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinumvà cuốn văn phạm Việt Nam Linguae Annamiticae seu Tunchinensiss brevis declaratio.Cả ba cuốn sách trên là những tài liệu vô giá chẳng những đã cống hiến cho chữ Quốc ngữ một hình thức xác định và một địa vị vững chắc mà nó còn là viên đá đầu tiên của ngữ học và văn học ở Việt Nam. Điều mới mẻ là việc sử dụng một hệ thống chữ viết có tính cách mạng lấy từ vần Latin, vừa mới được sáng chế trước đó; hệ thống chữ viết ấy, ngày nay thường được gọi chung là chữ Quốc ngữ (3).

Vào thời điểm các thế kỷ 16, 17 ý tưởng Latin hoá một số ngôn ngữ Á Đông đã được manh nha và thực sự được tiến hành đầu trên ở Nhật Bản và Trung Hoa. Năm 1615, ngay khi khởi công truyền giáo tại Việt Nam, các tu sĩ Dòng Tên đã có một kinh nghiệm hơn 20 năm nghiên cứu và sáng chế về ngữ học tiếng Nhật. Sự kiện đó rất hữu ích vì đối chiếu với tiếng Trung Hoa, tiếng Nhật và tiếng Việt có một vị thế tương tự, và vì các thứ tiếng này cùng chịu chung một loại ảnh hưởng xuyên qua lối chữ vuông (4).

Nếu tại Nhật Bản và Trung Hoa đã có một lối Latin hoá văn tự, thì tại Việt Nam, từ buổi tiếp xúc đầu tiên, cũng đã có những cố gắng tương tự. Lúc đầu, các nhà truyền giáo tiên khởi đến Đàng Trong đã phải dùng chữ ký hiệu riêng của mình để ghi chép ít ra tên các thành, các tỉnh, các địa danh hoặc những từ ngữ cần thiết trong công việc giao tế thường nhật. Theo tài liệu lưu trữ của Dòng Tên, từ năm 1615 - 1618 có 10 nhà truyền giáo đã đến Đàng Trong. Thế nhưng, việc sáng chế ra chữ Quốc ngữ giai đoạn đầu tiên, giai đoạn phôi thai là sự đóng góp thuộc về các tên tuổi như: Pina, Borri và Buzomi. Nước Mặn là nơi đóng bản doanh của giáo đoàn các tu sĩ Dòng Tên và cha Bề trên Buzomi ở tại đây.

Những bản dịch các bản văn Kito giáo đầu tiên ra tiếng Việt có từ năm 1618, và phần thiết yếu do công của Francesco de Pina. Trong công việc của mình, linh mục Pina nhờ đến sự giúp đỡ rất hữu hiệu của một văn nhân Việt Nam trẻ tuổi và có tên rửa tội là Phêro. Ba tu sĩ Dòng Tên bấy giờ có mặt tại cơ sở truyền giáo Pulucambi (Qui Nhơn) lúc công trình này tiến hành là Buzomi, Pina và Borri và công trình được thực hiện dưới sự giám sát của Buzomi - cựu Bề trên cơ sở truyền giáo Đàng Trong (1615 - 1618) và hiện là Bề trên cơ sở địa phương. “Tại Nước Mặn đây là thí điểm truyền giáo tiên khởi do cha Buzomi, Pina và Borri đảm nhiệm. Các cha đã in cuốn sách giáo lý và tiếp tục kiên trì giữa bao khó khăn để hoạt động cho cả giới trí thức người Việt thuở đó” (5). Những sự kiện đó rút ra từ một bản phúc trình chính thức của cơ sở truyền giáo (6).

Nguồn tài liệu về chữ Quốc ngữ, chủ yếu là những bản viết tay, đặc biệt là những bản báo cáo chính thức và trao đổi thư từ riêng tư giữa các tu sĩ Dòng Tên, phần lớn được lưu trữ ở Lisbonne, ở Madrid và nhất là ở Roma, rải rác trong nhiều bộ sưu tập. Chúng được viết bằng tiếng Bồ Đào Nha, một ít bằng tiếng Latin và đôi khi bằng tiếng Ý. Dựa vào những tài liệu này, các nhà nghiên cứu đã ấn định chữ Quốc ngữ giai đoạn 1620 - 1626 là thời kỳ phôi thai, gồm có bảy tài liệu.

Chữ Quốc ngữ năm 1620

Tài liệu viết tay thứ nhất là: Annua de Cochinchina do anno de 1620, Pera N. Muy Edo em Christo pe Mutino Vitelleschi Preposito Geral da compa de jegu(Arsi. Jap. Sin 72I via). Đây là bản tường trình hàng năm của Tỉnh Dòng Tên Nhật Bản do João Roiz dựa theo các bản báo cáo ở Đàng Trong soạn thảo để gửi cho Bề trên Cả Dòng Tên ở La Mã. Tài liệu soạn tại Áo Môn ngày 20 - 11 - 1621 bằng tiếng Bồ Đào Nha, gồm 30 trang, khổ 14 x 22cm. Một số chữ Quốc ngữ trong tài liệu Annam (An Nam), Sinoa (xứ Hoá), Unsai (ông sãi), Cacham (kẻ chàm), Ungue (ông nghè), on trũ (ông trùm), Nuocman (nước Mặn), Bafu (bà Phủ), Sai Tubin (sãi Tư Bình), Banco (bàn cổ), Oundelim (ông Đề lĩnh).

Tài liệu viết tay thứ hai là Cochncinensis Missionis annuae litterae anni 1620(Arsi, Jap. Sin. 71f., 23 - 27). Cũng là một bản tường trình về giáo đoàn Đàng Trong của Tỉnh Dòng Tên Nhật Bản do Gaspar Luis viết gửi về Bề trên Cả Dòng Tên ở La Mã. Tài liệu soạn thảo bằng La ngữ tại Áo Môn ngày 12 - 12 - 1621, gồm 10 trang, khổ 12 x 20cm. Gaspar Luis nhắc đến ít danh từ tiếng Việt hơn Roiz. Một số chữ Quốc ngữ trong tài liệu của Luis và Roiz khá giống nhau như: Cacham, Nuocman; một số dị biệt nhỏ xuất phát từ ký hiệu Bồ Đào Nha như Sai (Roiz) và Says (Luis), Ungue (Roiz) và Unguè, Ungué (Luis) (7).

Chữ Quốc ngữ năm 1621

Đó là tài liệu của Cristoforo Borri (8) được in lần đầu tiên bằng tiếng Ý năm 1631, nhưng đây là chữ Quốc ngữ được ông viết vào những năm 1620 – 1621. Bởi vì ông đến Đàng Trong (Nước Mặn) năm 1618 và rời Nước Mặn về châu Âu năm 1621. Có thể chữ Quốc ngữ trong sách của Borri không đúng hoàn toàn với chữ trong bản thảo của ông, bởi vì nhà in lúc bấy giờ không có những dấu ghi thanh mà có thể Borri đã dùng lúc soạn thảo (ngoại trừ dấu huyền có sẵn trong tiếng Ý). Tiếc rằng bản viết tay ngày nay không còn. Borri là người phương Tây đầu tiên đã viết và cho xuất bản một cuốn sách khá dài về xứ Đàng Trong. Cuốn sách này đã được dịch ra Pháp ngữ, La ngữ và tiếng Hà Lan (1632); Đức ngữ, Anh ngữ (1633)… Borri sử dụng số lượng lớn từ Quốc ngữ để chỉ các vật thông thường, tên người, tên đất… như: Anam (An Nam), Tuchim (Đông kinh), Lai (Lào), Ainam (Hải Nam), Quamguya (Quảng Nghĩa), Quinhin (Qui Nhơn), Renran (Đà Rằng), nayre (nài), doij (đói), Dàdèn, lùt, Dàdèn, lùt (Đã đến lụt, đã đến lụt), Scin mocaij (xin một cái), chìa (trà), sayckim (sách kinh), sayc chiu (sách chữ), onsaij (ông sãi), Nuocmam (Nước Mặn), Omgne (ông Nghè), Tuijciam Biêt (tôi chẳng biết), Bua (Vua), Chiuua (Chúa), Onsaij di lay (ông sãi đi lại), Con gnoo muon bau tlom laom Hoalaom chiam (con nhỏ muốn vào trong lòng Hoa lang chăng),… Theo Thanh Lãng, trong cuốn sách của Borri có 94 từ Quốc ngữ và có một số chữ giống hệt ngày nay.

Chữ Quốc ngữ năm 1625

Bức thư viết tay đề ngày 16 - 6 - 1625, lưu trữ tại Arsi, Jap, Sin. 68, do Rhodes viết bằng chữ Bồ Đào Nha gửi cho phụ tá Bề trên ở Ma Cao. Bức thư dài hai trang giấy kổ 15,15 x 23cm, có mấy chữ Quốc ngữ như: Ainaõ (Hải Nam), Tunqin (Đông Kinh). Tháng 6 năm 1625, Rhodes đã tạm nói được tiếng Việt.

Chữ Quốc ngữ năm 1626

Có ba tài liệu:

+ Bản tường trình của Gaspar Luis được soạn tại Nước Mặn ngày 1 - 1 - 1626 bằng tiếng Latin gửi cho Bề trên Cả Dòng Tên ở La Mã, dài 30 trang khổ 13 x 20,50cm. Những chữ Quốc ngữ trong bản tường trình như: Dinh Cham (Dinh Chàm), Ca cham, Nuocman, Quanghia, Quihin, Raran, Bendâ (Bến Đá), Bôdê (Bồ Đề), Ondelimbay (ông Đề Lĩnh Bảy), Ondelim, Ondedoc (ông Đề Lĩnh, ông Đề Đốc), Unghe chieu (ông nghè Chiêu), Nhit la Khaum, Khaum la nhit (nhất là không, không là nhất).

+ Bản tường trình của Antonio de Fontes soạn bằng tiếng Bồ Đào Nha gửi cho Bề trên Cả Dòng Tên ở La Mã dài 34 trang khổ 14,50 x 23cm. Những chữ Quốc ngữ trong bản tường trình: Dĩgcham (Dinh Chàm), Nuocman, Quinhin, Sinoá (xứ Hoá), Quan (Quảng), Xabin (Xá Bình), Bendá, Bude (Bồ Đề), Ondelimbay, Ondedoc, Onghe Chieu, Nhít la Khấu, Khấu la nhít…

+ Bức thư của Buzomi viết bằng tiếng Ý ngày13 - 7 - 1626 gửi cho Bề trên Cả Dòng Tên, dài 4 trang khổ 21 x 30cm. Trong thư có một số chữ Quốc ngữ được ông viết theo lối cách ngữ ngày nay: Xán tí (Thượng Đế), thiên chũ (Thiên Chúa), ngaochuan (Ngọc Hoàng).

Ký hiệu phiên âm chữ Quốc ngữ giai đoạn phôi thai ảnh hưởng nhiều Bồ Đào Nha, một ít từ ảnh hưởng Ý và có cả ảnh hưởng tiếng Pháp. Hệ thống dấu ghi thanh dần dần được áp dụng, với dấu sắc được dùng sớm nhất, lối viết cách ngữ bắt đầu hình thành đối với các nhà truyền giáo người Ý. Ký hiệu tiếng Bồ Đào Nha chẳng những được thống nhất duy trì mà còn được tiếp tục bảo vệ. Chữ Quốc ngữ giai đoạn 1620 - 1626 có sự tiến bộ từ do dự, vẫn đục đến gọn ghẽ, trong sáng (10). Mặc dù, từ khi có dấu vết chữ Quốc ngữ đến trước năm 1651, chưa tìm thấy một bản văn nào hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ, thế nhưng ở giai đoạn hai - giai đoạn hình thành, chữ Quốc ngữ đã được viết khá đúng về hai phương diện: cách ngữ và dấu.

Chú thích

1. Nguyễn Thanh Quang -Nước Mặn nơi phôi thai chữ Quốc ngữ, Tạp chí Xưa & Nay. Số 301 - 302, 2 - 2008, tr 27, 28, 29.

2. Roland Jacques - Lesmissionnaires portugais et lets débuts de l’E’glise catholique au Vietnam. Bilingue - Tom l. Định Hướng Tùng Thư. 2004. Tr 25.

3. Roland Jacques - sđd, tr 23

4. Roland Jacques - sđd, tr 79.

5. Rực sáng một vì sao (Tài liệu tổng hợp về Á Thánh Anre Phú Yên). Nxb Tôn Giáo, 2006, Lm. Vũ Thành- Bối cảnh lịch sử tôn giáo thời kỳ đầu của việc rao giảng tin mừng tại Việt Nam.

6. Bản báo cáo ký tên Francisco Eugenio, tu sĩ Dòng Tên người ý ở Ma Cao, ghi lại những chữ lấy từ một tài liệu khác:Annua del Collegio di Macao del 1618 (Arsi, Jap - Sin. 114, tr 176 - 185), Bản 183v - 184.

7. Hoàng Xuân Việt -Tìm hiểu chữ Quốc ngữ . Nxb Văn hoá Thông tin. 2007, tr 123.

8. Relatione della nuova Missione Della P. P. Della Compagnia di Giesu al Regno della Cocincina, acritta, dal medâim compagnia che fu uno de primi Ch’entrrorono in detto Regno, Roma 1631.

9. Rhodes,Divers voyages et misions, tr 72. Đỗ Quang Chính,Lịch sử chữ Quốc ngữ. Đường mới, Paris, 1985, tr 32.

10. Hoàng Xuân Việt,Tìm hiểu chữ Quốc ngữ. Nxb Văn hoá Thông tin 2007, tr 129 - 130.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.