Cây ích trí
Cả cây có mùi thơm, vị cay. Lá hình mác rộng 4cm, dài 30 - 40cm. Hoa tự hình chùm mọc ở đầu cành, hoa trắng có đốm tía. Quả hình cầu, khi chín có màu vàng xanh. Hạt nhiều cạnh, màu nâu đen. Ở nước ta có nhiều cây cùng họ gừng được dùng trị bệnh với tác dụng tương tự.
Các cây này mọc hoang dại thành từng đám ở núi rừng phía bắc nước ta
Bộ phận dùng:quả bóc vỏ lấy nhân. Mua ở hiệu thuốc với tên ích trí nhân.
Liều dùng:5 - 20g .
Tính vị:cay, thơm, ấm.
Tác dụng:ôn bổ tỳ, cố tinh.
Điều trị:
Tỳ hư hàn:ăn kém, tiêu hoá kém hay đầy bụng: ích trí nhân 10g, trần bì 10g, đại hồi 50g, bạch truật 10g, mộc hương 5g. Nấu sắc uống hoặc dùng 4 thang này ngâm với 1 lít rượu, mỗi lần uống 20ml, mỗi ngày 2 - 3 lần.
Thận dương suy:gầy yếu xanh xao, tứ chi vô lực, di tinh, đái đêm: ích trí nhân 10g, phá cổ chỉ 5g, khiếm thực 10g, hoài sơn 10g, thổ ty tử 5g. Nấu sắc uống.
Hoặc dùng Cổ phương súc tuyền hoànvới tác dụng ôn bổ thận dương, cố tinh như: súc tuyền hoàn, ích trí nhân, thố ty tử, ô dược, tang phiêu tiêu, hoài sơn. Mỗi vị cân lượng bằng nhau, tán bột làm viên, mỗi lần uống 8g, mỗi ngày uống 1 - 2 lần.








