Cấp phép xả thải, biện pháp hạn chế ô nhiễm nước
Những con số xả thải
Theo số liệu công bố của Bộ Tài nguyên và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải sinh hoạt xả ra trên địa bàn Hà Nội là hơn 500.000 mét khối. Cùng với đó là khoảng 260 mét khối nước/ngày do các cơ sở sản xuất, dịch vụ thải vào hệ thống thoát nước chung. Nhiều nhà máy hoá chất, công nghiệp, thực phẩm, vật liệu xây dựng xả thải trực tiếp ra hệ thống cống rãnh thoát nước chung mà không qua xử lý, nước thải có nồng độ chất bẩn gây ô nhiễm cao trong khu vực xả thải. Sông Kim ngưu hiện là con sông ô nhiễm nặng nhất trên địa bàn Hà Nội. Theo kết quả quan trắc của Trung tâm kỹ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp, tại điểm khảo sát cầu Mai Động, hàm lượng BOD vượt gấp 3 lần tiêu chuẩn cho phép loại B, hàm lượng COD vượt từ 2 đến 3 lần, hàm lượng amoni vượt gấp 35 lần và Coliform vượt tới 57 lần cho phép. Nghiêm trọng hơn, hạ lưu các dòng sông thải ở Hà Nội chủ yếu dồn về khu vực phía Nam thành phố, nơi có địa hình thấp, trong khi đó có khá nhiều nhà máy nước được xây dựng như Nhà máy nước Pháp Vân, Hạ Đình, Phương Mai, Hà Đông. Các nhà môi trường đã cảnh báo, nước ngầm tại khu vực phía Nam Hà Nội: tầng Qp 1 đang có biểu hiện nhiễm bẩn cục bộ, có nơi bị nhiễm amoni vượt gấp hàng chục lần tiêu chuẩn cho phép về nước cấp phục vụ sinh hoạt.
Tình trạng ô nhiễm nặng đến mức báo động cũng xuất hiện ở hầu hết những dòng sông chảy qua các khu đô thị lớn hoặc khu công nghiệp. Lưu vực sông Nhuệ và sông Đáy mỗi ngày phải tiếp nhận khoảng 80.000 mét khối nước thải chưa qua xử lý do các cơ sở sản xuất địa phương xả thải trực tiếp ra. Hàm lượng Phenol đo được trong sông Nhuệ cao gấp 10 lần tiêu chuẩn nguồn nước cấp phục vụ sinh hoạt. Nước sông Nhuệ và sông Đáy nhiễm bẩn đã ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống và sức khoẻ hàng chục nghìn hộ dân các địa phương ven sông, hàng ngày đang lấy nước trực tiếp từ 2 sông này để ăn uống sinh hoạt.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp xả ra mỗi ngày hơn 1 triệu mét khối, trong đó có hơn 90% chưa qua xử lý. Hầu hết các kênh rạch nội thành cũng đã bị ô nhiễm nghiêm trọng các chất hữu cơ, kim loại nặng, nồng độ ô xy hoà tan DO đo được ở tất cả các trạm quan trắc đặt tại 4 hệ thống kênh rạch chủ yếu của thành phố đều cho giá trị rất thấp, thậm chí một số điểm đo tại Ông Buông, Hoà Bình, Ruột Ngựa cho kết quả nồng độ DO bằng 0. Hầu hết các loại động vật thủy sinh đều không thể sống được trong môi trường nước chết như vậy.
Tính chung trên địa bàn cả nước, lượng nước thải các loại chưa được xử lý nhưng vẫn xả thẳng ra môi trờng hàng năm lên tới 1,5 tỷ mét khối; trong đó các khu đô thị và khu công nghiệp mỗi ngày thải khoảng hơn 3 triệu mét khối nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất trực tiếp vào nguồn nước mặt. Với hàm lượng các chất gây ô nhiễm cao, khối lượng nước thải này đã và đang gây ô nhiễm nghiêm trọng cho rất nhiều con sông, mà chính những sông đó lại là nguồn cấp nước chủ yếu cho các nhà máy nước công suất lớn và trạm cấp nước quy mô nhỏ hơn phục vụ cấp nước sinh hoạt và sản xuất hàng ngày tại các đô thị, các khu tập trung đông dân cư.
Cấp phép xả thải - biện pháp hạn chế ô nhiễm nước
Nghị định 149/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên nước. Trên cơ sở đó, Nhà nước phân phối, giám sát, theo dõi, các cơ sơ khai thác, sử dụng, đặc biệt xả thải đúng quy định Nhà nước về xử lý nước đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi xả thải ra môi trường. Đồng thời, việc cấp phép cũng giúp đảm bảo quyền lợi của tổ chức, cá nhân đã xin phép. Khi được cơ quan Nhà nước cấp phép, các tổ chức, cá nhân này sẽ có quyền xả và thực hiện đúng cam kết, quy định ghi trong giấy phép. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép cho một tổ chức, cá nhân khác phải tính đến quyền lợi của những người đã và đang xin phép khai thác sử dụng nước nói chung, xin phép xả nước thải nói riêng.
Để đảm bảo tài nguyên nước được ổn định, bền vững cần phải đảm bảo khâu xả thải. Tổ chức, cá nhân xả nước thải vào nguồn nước phải thực hiện việc xử lý nước thải để đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi xả vào nguồn nước; đồng thời, việc cấp phép xả nước thải vào nguồn nước phải căn cứ vào khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước, bảo đảm không gây ô nhiễm nguồn nước và việc bảo vệ tài nguyên nước. Giải quyết được vấn đề này chính là giải quyết tận gốc nguyên nhân gây ô nhiễm. Đối với các cơ quan Nhà nước, đặc biệt là các tỉnh trong lưu vực sông cần có chương trình, dự án chung để giải quyết ô nhiễm nước khi xả thải nước vào lưu vực sông.
Thực hiện nhiều biện pháp phối hợp giữa các bộ, ngành, cơ quan quản lý Nhà nước về tài nguyên nước ở trung ương và địa phương bằng việc tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước đã có của Nhà nước để các cơ sở, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân xả nước thải vào nguồn nước tại các lưu vực sông thực hiện nghiêm chỉnh và trách nhiệm của họ phải xử lý tốt, đảm bảo bảo vệ môi trường và tuân thủ nghị định 149 của Chính phủ về quy định xả nước thải vào nguồn nước.








