Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 22/04/2010 16:13 (GMT+7)

Cao Xuân Hạo - Nhà Việt ngữ học

Tiếng Việt - mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩalà tuyển tập phần lớn những thành tựu chủ yếu của Cao Xuân Hạo trong hơn 40 năm nghiên cứu; trong đó, có công trình chưa bao giờ xuất bản hay đã sửa chữa nhiều so với bản gốc. Đây là cuốn sách làm vinh dự cho nhà xuất bản. Không phải ngẫu nhiên mà nhà xuất bản Giáo dục chọn cuốn sách này làm một ấn phẩm kỷ niệm 20 năm ngày thành lập chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh.

Quả vậy, tuyển tập cho thấy ở nhiều vấn đề Việt ngữ học, Cao Xuân Hạo là người khai phá hoặc là người đầu tiên đặt lại vấn đề. Chẳng hạn bài “Nhận xét về các nguyên âm của một phương ngữ ở tỉnh Quảng Nam” miêu tả hiện tượng biến đổi toàn bộ các nguyên âm trong âm tiết có chung âm, một phát hiện lạ lùng đối với toàn thể khối ngôn ngữ vùng Đông Nam Á, vì theo A.G. Haudricourt ở khu vực này các hệ thống nguyên âm, dù là của những ngôn ngữ khác nhau về nguồn gốc, tỏ ra rất bền vững. Chỉ đến Cao Xuân Hạo, với “Một số biểu hiện của cách nhìn Âu châu đối với cấu trúc tiếng Việt”, mới có một sự phê phán quyết liệt sự phân biệt vô căn cứ động từ với tính từ như hai từ loại khác nhau, mới có việc nhận định trong tiếng Việt không có chủ ngữ / vị ngữ như những khái niệm ngữ pháp, mà chỉ có sự phân biệt đề / thuyết. Trước Cao Xuân Hạo đã có một Nguyễn Tài Cẩn – tiếp thu tinh thần của các nhà Đông phương học Liên Xô như Polivanov, Dragunov, Jakhontov – chủ trương trong tiếng Việt, tiếngcó một cương vị ngôn ngữ học thực sự, nhưng phải đến Cao Xuân Hạo với bài “Về cương vị ngôn ngữ học của ‘tiếng’”, thì vấn đề mới được bàn luận một cách thấu đáo trên bình diện lý thuyết cũng như bình diện thực tiễn, nhờ phát huy thành tựu của người đi trước. Trước Cao Xuân Hạo, có gần một chục giải pháp âm vị học cho các nguyên âm hẹp của tiếng Việt, nhưng phải đến Cao Xuân Hạo với hai bài “Về cách phân tích âm vị học một số vận mẫu có nguyên âm ngắn trong tiếng Việt” và “Thêm mấy giải pháp âm vị học cho các vận mẫu có nguyên âm ngắn của tiếng Việt”, thì mới có một sự phân tích hiển ngôn, rõ ràng và cặn kẽ ưu và khuyết điểm của từng giải pháp một, để rồi từ đó, tác giả đề xuất giải pháp của mình. Đã có không ít tác giả bàn đến trọng âm trong tiếng Việt, nhưng phải đến bài “Trọng âm và các quan hệ ngữ pháp trong tiếng Việt” (1978) của Cao Xuân Hạo thì lần đầu tiên trọng âm tiếng Việt mới được phân tích kỹ lưỡng và giới nghiên cứu mới thức nhận trọng âm như một "tiêu chí hình thức” để nhận diện một loạt các quan hệ ngữ pháp trong tiếng Việt và hai mươi năm sau những nhận định của Cao Xuân Hạo hoàn toàn được xác nhận khi kiểm nghiệm bằng những phương tiện hiện đại. Như thế là bên cạnh các tiêu chí thuộc về trục kết hợp (syntagmatic), Cao Xuân Hạo hiến cho giới nghiên cứu cả những tiêu chí thuộc trục đối vị (paradigmatic), vốn rất ít được chú ý. Điều quan trọng là Cao Xuân Hạo đã hé cho thấy trọng âm có thể là một thử thách sinh tử đối với tính vững chắc của một số quan niệm ngữ pháp trong tiếng Việt.

Với tuyển tập này, người ta có dịp thấy rõ một loạt khái niệm quan trọng nhất, làm thành bộ công cụ phân tích của Việt ngữ học như âm vị, thanh điệu, âm tiết, trọng âm, hình vị, từ, ngữ, chủ vị, chính phụ, đẳng lập, tình thái, loại từ, động từ, tính từ, danh từ… đến Cao Xuân Hạo đã không thể giữ nguyên như trước được nữa. Đóng góp của Cao Xuân Hạo đối với Việt ngữ học quả thật to lớn.

Cao Xuân Hạo thuộc vào số rất ít nhà ngữ học Việt Nam vượt lên khỏi cái địa vị thuần túy cung cấp tư liệu minh họa cho các lý thuyết ngữ học của phương Tây, để đĩnh đạc tranh luận với giới ngữ học quốc tế. Bài “Vấn đề âm vị trong tiếng Việt”, tuy ngắn nhưng đủ sức lật nhào định nghĩa quen thuộc về âm vị như một “tổng thể các đặc trưng thỏa đáng được thực hiện đồng thời” (André Martinet, La description phonologique, avec application au parler franco-provençal d’Hauteville (Savoie), Genève: Droz, 1956, tr. 40), trên cơ sở chỉ rõ tính chất phi chức năng của tiêu chí đồng thời, được du nhập một cách trái phép vào định nghĩa âm vị; từ đó cho thấy âm vị học hiện đại không hề là một khoa học phổ quát như người ta nhầm tưởng, mà chỉ phản ánh thực tế của các ngôn ngữ châu Âu mà thôi. (Sau này, Cao Xuân Hạo phát triển các luận điểm trong bài báo này thành một công trình hơn 300 trang, viết bằng tiếng Pháp, do Hội Ngôn ngữ học và Nhân loại học Pháp quốc (SELAF) xuất bản, với nhan đề Phonologie et linéarité: réflexions critiques sur les postulats de la phonologie contemporaine,1985. Hai bài “Chiết đoạn và siêu đoạn trong ngôn ngữ học phương Tây và trong tiếng Việt” và “Nguyên lý ‘tuyến tính của năng biểu’ trong âm vị học” là trích dịch từ cuốn sách này). Chứng minh của Cao Xuân Hạo là một cú sốc cho giới chuyên môn, đến nỗi Jean-Pierre Chambon khi điểm bài báo trên, phải thốt lên những lời nồng nhiệt sau đây: “Có lẽ chính cái hướng do Cao Xuân Hạo chỉ ra – chứ không phải hướng của ngữ pháp tạo sinh cải biến – mới thật là cái hướng mà ta phải theo để tìm đến một cuộc cách mạng Copernic thực sự của ngữ học hiện đại” ( Revue des langues romanes, tome LXXXIII. No. 1978 fasc. 1. pp. 205-210).

Làm được điều đó, đã đành là phải hiểu rất sâu thành tựu của ngữ học hiện đại, nhưng quan trọng không kém, là nhờ Cao Xuân Hạo bám rất chắcvào mảnh đất tiếng Việt, hoàn toàn nhập thân vào tâm lý ngôn ngữ của người bản ngữ, quan sát cái thực tế nói năng của người Việt, lấy đó làm nơi kiểm nghiệm lại lý luận của ngữ học hiện đại. Nhờ làmột dịch giả của hàng vạn trang sách, Cao Xuân Hạo thường xuyên có dịp so sánh đối chiếu những cách diễn đạt của tiếng Việt và của các thứ tiếng châu Âu, rút ra được những điểm dị đồng giữa hai loạihình ngôn ngữ. Và khác với rất nhiều nhà ngữ học cố gò bằng được tiếng Việt cho vừa cái khuôn lý luận đã có, Cao Xuân Hạo can đảm sửa đổi cái chuẩn tắc vốn được giới ngữ học thừa nhận. Rất nhiều bàitrong tuyển tập này được viết trong tinh thần chống lại quan điểm dĩ Âu vi trung (europeocentrism) như vậy.

Chính cái tinh thần phê phán đối với ngữ học hiện đại phương Tây khiến cho Cao Xuân Hạo đặc biệt trân trọng và đánh giá công bằng các thành tựu của quá khứ. Chẳng hạn ở bài “Hai cách miêu tả hệ thốngthanh điệu của tiếng Việt”, Cao Xuân Hạo tuân thủ hoàn toàn các chuẩn tắc của âm vị học hiện đại, nhưng lại chứng minh một cách không thể nào bác bỏ rằng ở tiếng Việt, giải pháp sáu thanh điệu “hiệnđại” tỏ ra kém hiệu quả hơn nhiều so với giải pháp tám thanh điệu truyền thống, khiến cho những ai vì sùng mộ “hiện đại” mà rẻ rúng truyền thống như một cái gì lạc hậu, phải giật mình trước thành tựucủa người xưa. Cũng vậy, bài “Trương Vĩnh Ký, nhà ngữ học” chỉ rõ cái người đồng thời với Ferdinand de Saussure ấy, cái người bị giới ngữ học Việt Nam chê cười là cổ lỗ ấy, thực ra là thuộc vào hàngnhững người đi tiên phong trong việc xây dựng nền ngữ pháp cách, một trong những thành phần chủ yếu của ngữ pháp chức năng hiện đại và chính là một trong những người đầu tiên trên thế giới đã xácđịnh được tư cách danh từ của các “loại từ”.

Dễ hiểu là tại sao nhiều bài trong tuyển tập lại có một giọng văn vừa mỉa mai vừa chua chát. Cao Xuân Hạo ngạc nhiên trước những nhà ngữ học “ lấy làm thỏa mãn với dăm bảy thí dụ chợt nghĩ ratrong vài giây, vào những khoảnh khắc xuất thần của thiên tài”, và dường như Cao Xuân Hạo tự xếp mình vào hạng “ những người trần tục tầm thường, còn lâu mới dám nghĩ rằng mình là thiên tài,đành phải từ bỏ mối hy vọng có được những giây phút tương tự, để dành hàng buổi, hàng tuần, hàng tháng, hàng năm nếu cần, lần giở từng trang từ điển hòng kiểm tra lại những phát hiện sáng chói mà cácbậc thiên tài đã thực hiện, và hễ có cơ may thì tự mình tìm ra những quy tắc khác ít mang dấu ấn của thiên tài nhưng lại vượt qua được sự thử thách của một quá trình kiểm nghiệm kỳ khu, để lần mò tớinhững sự thật có thật trong tiếng Việt chứ không phải trong tiếng Pháp hay tiếng Nga” (“Một số biểu hiện của cách nhìn Âu châu đối với cấu trúc tiếng Việt”). Phê phán một tác giả chủ trương chỉnên nhận định rằng “ trong tiếng Việt âm tiết nhiều lúc trùng với hình vị”, một nhận định có thể dùng cho mọi ngôn ngữ có thể tưởng tượng được, chứ còn ở đây lại là tiếng Việt, một ngôn ngữ màhơn 90% hình vị là âm tiết và trong 100% trường hợp, biên giới hình vị trùng với biên giới âm tiết, Cao Xuân Hạo bình: “[…] nói như vậy chỉ cho thấy một quyết tâm nhắm mắt trước sự thật mà khôngcó cách gì lay chuyển nổi” (“Về cương vị ngôn ngữ học của ‘tiếng’”). Nhận xét về tình hình không hiếm sách vở ngữ học áp đặt cho người đọc một giải pháp nào đó mà không hề giải thích, Cao XuânHạo gọi đấy là chuyện vấn đề ngữ học “ được giải quyết bằng những sắc lệnh” (“Ngữ đoạn và cấu trúc của ngữ đoạn”). Đứng trước sự kiện đã, đang, sẽcứ bị nhiều nhà nghiên cứu cho là diễntả ý nghĩa quá khứ, hiện tại và tương lai, Cao Xuân Hạo nhận định ba từ này “ trong một thời gian rất dài (hơn ba thế kỷ) và mãi cho đến ngày nay vẫn còn bị hiểu sai, và có lẽ đến ba thế kỷ sauvẫn thế thôi, vì hình như cách hiểu sai đó là một tín điều thiêng liêng nào đấy được sùng kính hơn sự thật của ngôn ngữ rất nhiều, mà dù có đưa hàng vạn bằng chứng lấy trong thực tế hàng ngày củatiếng Việt cũng không sao thuyết phục được lấy một người nào trong số tín đồ của giáo phái đó” (“Tiền giả định và hàm ý trong một số vị từ tình thái tiếng Việt”). Có thể đọc thấy đằng sau sự mỉamai, chua chát đó là một tâm trạng buồn nản trước tính chất thủ cựu của ngữ pháp nhà trường.

Văn khoa học thường lạnh lùng, khách quan. Cho nên, cái chua chát mỉa mai ấy khiến cho tuyển tập có một phong vị đặc sắc và do đó (phải thú thật) thêm cuốn hút người đọc.

Cuốn sách mời gọi nhưng không dễ đọc. Và nếu người ta trút bỏ mọi định kiến, theo dõi trình tự lập luận của tác giả, kiểm tra cách lý giải của tác giả bằng mọi ngữ liệu mình thu thập được, và – quantrọng nhất là – bằng những sự kiện thực sự chi phối hành vi và cảm thức của người bản ngữ, thì kết quả thật đáng công. Tán thành Cao Xuân Hạo hay không chưa hẳn là vấn đề, nhưng kể từ khi công trìnhnày xuất bản, những ai nhiệt thành với bộ môn Việt ngữ học sẽ không thể không thấy mình đối mặt trước những thách thức mà cuốn sách đặt ra.

Xem Thêm

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.