Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 17/11/2010 18:38 (GMT+7)

Cần thiết lập hệ thống sinh thái và bón phân phù hợp để sản xuất cà phê bền vững ở Tây Nguyên

Giá trị xuất khẩu năm 2008 đạt trên 1 tỷ đô la và dự kiến năm 2009 là 1,8 tỷ đô la. Việt Nam đã vươn lên là nước sản xuất cà phê đứng ở vị trí hàng đầu trên thế giới và đứng ở vị trí thứ 2 về sản lượng cà phê xuất khẩu của thế giới. Nhiều vùng đã có năng suất bình quân từ 3 – 4 tấn nhân/ha. Nhiều hộ gia đình đã đạt năng suất từ 5 – 6 tấn nhân/ ha, cá biệt có một số hộ đạt năng suất 8 – 9 tấn nhân/ ha. Đây là mức kỷ lục chưa từng có ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Đó là những thành tựu nổi bật và là một kỳ tích của ngành cà phê Việt Nam trong đó có khoảng 80% diện tích cà phê thuộc khu vực nhân dân. Thành tích tuy lớn nhưng những tồn tại cũng không phải là nhỏ.

Thứ nhấtcần phải nói đến đó là chất lượng cà phê nhân chưa ổn định, còn nhiều khuyết tật như còn lẫn hạt đen, nâu, sâu, vỡ, mảnh vỏ, đá… do vậy trong những năm gần đây cà phê Việt Nam đã bị khước từ trả lại tới trên 2 triệu bao (mỗi bao 60 kg cà phê nhân) từ các cảng ở Bỉ và Luân Đôn. Hiện nay ngành cà phê Việt Nam và các địa phương đang có những giải pháp về tổ chức sản xuất và thu hái chế biến, đầu tư, khuyến nông, kiểm tra, chính sách… để khắc phục tồn tại lớn này, nhằm nâng cao hiệu quả và uy tín của cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Thứ haiđó là chưa thiết lập được hệ sinh thái phù hợp với yêu cầu sinh lý của cây cà phê. Đó là các vườn cà phê còn thiếu hệ thống đai rừng chắn gió, hệ thống cây che bóng.

Quan sát lại một số tỉnh ở Tây Nguyên dọc theo quốc lộ 14 từ huyện Ea H’Leo đến huyện Krong Puk ở Đắk Lắk, từ huyện Cư Jút đến huyện Đắk Lấp tỉnh Đắk Nông và dọc theo đường 20 của tỉnh Lâm Đồng từ huyện Di Linh đến Bảo Lộc có hàng ngàn ha cà phê không có cây đai rừng và cây che bóng. Mặt khác hầu hết các diện tích này có độ dốc cao trên 10 độ. Đây là một thảm họa đối với cây cà phê trong mùa khô có điều kiện thời tiết hết sức khốc liệt, cường độ chiếu sáng trong mùa này rất mạnh, gió mạnh làm thất thoát hơi nước ở mức độ cao, trong một ngày đêm lượng nước bốc hơi trên đồng ruộng tới 8 ly. Nếu tính ra trong một tháng lượng nước bốc hơi từ trong đất đã mất 240 ly trong khi đó vào mấy tháng mùa khô không hề có lượng mưa. Ở những ngày nắng gắt nhiệt độ mặt đất có thể lên tới 70 độ. Nhiệt độ không khí ở 35 độ thì cây cà phê ngừng quang hợp trong khi đó nhiệt độ không khí trong vườn cà phê trong mùa khô vào buổi trưa và chiều thường lên quá 35 độ. Do những điều kiện tự nhiên ở trên làm cho cây cà phê thiếu nước, táp hoặc cháy lá dẫn tới hiện tượng khô cành, rụng quả và làm cho cây kiệt sức hoặc chết.

Nhiều công trình nghiên cứu ở trong nước cho thấy: nếu có cây che bóng làm cho nhiệt độ trong lô cà phê giảm được từ 2,7 – 5,3 độ do làm giảm được lượng bức xạ của mặt trời từ 12 – 41%. Độ ẩm tăng lên từ 2 – 3% do cây bóng mát hút nước từ tầng đất ở dưới sâu và phun hơi nước ra từ hàng tỷ khí khổng của bộ lá, của cây bóng mát. Nếu có cây che bóng kết hợp với cây đai rừng có khả năng giảm được từ 41 – 87% tốc độ gió.

Trồng cây cà phê phải có cây bóng mát tùy từng giống cà phê là chè hay cà vối tùy thuộc vào điều kiện khí hậu cụ thể của từng nơi. Kết quả nghiên cứu cho thấy cà phê chè cần có độ che bóng từ 30 – 70%, thông thường là trên dưới 50%, còn cà phê vối có thể thấp hơn nhưng nhất thiết phải có đặc biệt là những vùng có điều kiện khí hậu khắc nghiệt trong mùa khô như ở Tây Nguyên nước ta. Trong các vùng đồi núi nếu trồng cà phê nhất thiết phải có cây bóng mát được trồng dày ở trên đỉnh, chóp đồi để làm thêm nhiệm vụ giữ nước, chống xói mòn đất. Còn trên lô trồng có thể sử dụng các cây bóng mát sau đây: Keo dậu Cu Ba (Leucaena Leucocephala), Keo tây (Albizzia, Lebbeck), Sồi lá bạc (Gravilla Robusta), Muồng đen (Cassia Siamea), Hoa hòe (Saphora Japorucia), cây Vông (Erythrina Litosperma) có thể trồng xen cây sầu riêng làm cây che bóng để có thu hoạch quả. Cây keo dậu và sồi lá bạc, hoa hòe trồng với mật độ 12 x 6 m (140 cây/ ha). Khi vườn cà phê đã khép tán có thể tỉa thưa để lại khoảng cách cây bóng mát còn lại 12 x 12m. Những cây có bộ tán lớn như sầu riêng, muồng đen, keo tây có khoảng cách từ 12 x 12m, hoặc 12 x 24m. Cây Keo dậu Cu Ba là cây che bóng khá lý tưởng vì có lá nhỏ, phân bố ánh sáng đều xuống lô trồng có bộ rễ ăn sâu, là cây thuộc họ đậu vì vậy lượng lá khi rụng xuống sẽ cung cấp bổ sung chất dinh dưỡng cho vườn cây. Cây đai rừng có thể trồng những cây sau đây: Keo tai tượng, bạch đàn, chàm hoa vàng, đài loan tương tư, muồng đen….

Tồn tại thứ balà thiếu cây trồng xen để che phủ, bảo vệ, cải tạo nâng cao độ phì nhiêu của đất đã trồng cà phê.

Trên đất dốc trồng cà phê ở Tây Nguyên đặc biệt là trên những quả đồi, sườn núi nếu trồng cà phê mà không trồng cây che phủ đất thì sẽ diễn ra quá trình xói mòn rửa trôi đặc biệt là những tháng trong mùa mưa lớn thường kéo dài tới 5 tháng làm mất đất và các chất dinh dưỡng trên lô trồng. Lượng đất bị xói mòn nếu không có cây che phủ có thể lên tới trên dưới 100 tấn/ năm/ ha. Nếu quá trình này diễn ra liên tục trong nhiều năm thì lô cà phê vừa mất đất, mất chất dinh dưỡng dẫn tới suy thoái độ phì và tầng đất canh tác sẽ mỏng dần, hậu quả là không mang tính bền vững trong sản xuất cà phê là một cây công nghiệp lâu năm có chu kỳ kéo dài trên dưới 20 năm.

Cây trồng xen che phủ đất đã được xác định đó là: đậu lông, đậu tương, đậu phụng, các loại đậu đỗ khác như đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ, đậu hồng đào… Cây phân xanh gồm có: muồng lá tròn, muồng lá dài, muồng lá dùi đục, muồng ngủ, Flemingia, mục túi Braxin (Stylosanthes). Trồng các cây đậu đỗ, phân xanh này vào đầu mùa mưa sau đó lấy thân lá để tủ gốc, phủ đất nhằm tăng thêm chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng, giữ ẩm, ngăn ngừa sự phát triển của cỏ dại. Cây phân xanh có thể cắt một vài lần trong mùa mưa để tăng sinh khối chất xanh. Phân hữu cơ bao gồm: phân chuồng, phân súc vật, phân rác ủ, các phế thải và phụ phẩm của nông nghiệp (vỏ cà phê, vỏ đậu đỗ…) thân lá cây phân xanh, đậu đỗ, phân sinh hóa hữu cơ (có nhiều sản phẩm bán trên thị trường ví dụ như thương hiệu phân Komix…) Cây phân xanh, đậu đỗ trồng xen để che phủ, bảo vệ, cải tạo đất còn đem lại lợi ích cải thiện lý hóa tính của đất, mỗi vụ có khả năng cung cấp trên dưới 100 kg N nguyên chất và lượng Lân và Kali đáng kể trên lô trồng đặc biệt là lân dễ tiêu.

Tồn tại thứ tưlà bón phân mất cân đối. Bón phân hóa học với liều lượng NPK khá cao và liên tục trong nhiều năm mà thiếu bón phân hữu cơ. Các công trình nghiên cứu về phân bón cho cà phê ở Việt Nam đã kết luận: Để cho cây sinh trưởng, ra hoa, đậu quả và cho năng suất từ 3 – 4 tấn nhân thì cần từ 300 – 400kg đạm nguyên chất, 90 – 120 kg lân (P2O5) và từ 350 – 400kg kali (K2O). Song trong thực tế lượng phân bón nhiều hộ đã sử dụng lượng cao gấp rưỡi, gấp 2 lần so với nhu cầu. Số lần bón phân hóa học lại quá ít trong một năm, đặc biệt là trong mùa mưa và không đúng cách cũng làm cho lượng phân thất thoát do bốc hơi, cuốn chảy theo dòng nước, rửa trôi lên tới 40 – 60%. Do vậy đã làm cho đát trở nên chai cứng, cấu tượng bị phá vỡ. Hàm lượng chất hữu cơ quá thấp, đất trở nên chua. Vi sinh vật có ích không thể tồn tại và phát triển. Tạo điều kiện cho các vi sinh vật có hại phát triển và gây hại nghiêm trọng cho vườn cây. Hội chứng vàng lá, thối rễ cà phê xuất hiện tại Đắk Lắk vào thời gian trước và sau năm 2000 đã hủy hoại hàng ngàn ha cà phê đang trong thời kỳ kinh doanh có năng suất cao từ 3 – 4 tấn và hàng ngàn ha khác lâm vào tình trạng suy thoái nặng phải mất thời gian dài để cứu chữa. Nguyên nhân chủ yếu là do sử dụng phân bón hóa học với liều lượng cao kéo dài trong nhiều năm, thiếu bón phân hữu cơ, thiếu cây đai rừng và cây che bóng. Vì vậy các đối tượng sâu bệnh hại xuất hiện như tuyến trùng, rệp sáp, một số nấm bệnh nguy hiểm đã tấn công hủy hoại bộ rễ cà phê từ rễ đuôi chuột, rễ cọc, rễ ngang, rễ tơ và cổ rễ. Hậu quả là cây cà phê ban đầu có triệu chứng vàng lá sau đó rụng lá, khô cành rồi chết cả cây. Đây là một bài học đắt giá cho hệ sinh thái bị phá vỡ và chế độ bón phân mất cân đối làm hủy hoại môi trường đất, giúp cho các đối tượng sâu hại phát triển tấn công hủy hoại bộ rễ cây cà phê.

Tổng thể mà nói: muốn sản cuất cà phê bền vững, kéo dài nhiệm kỳ kinh tế và đạt hiệu quả cao cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật đồng bộ, không đuợc xem nhẹ khâu nào: đó là:

- Xây dựng hệ sinh thái phù hợp, đó là trồng cây đai rừng và cây che bóng cho cà phê ngay từ giai đoạn trồng mới.

- Trồng xen cây xanh, đậu đỗ, đặc biệt là kỳ kiến thiết cơ bản và đầu thời kỳ kinh doanh, khi cây còn nhỏ chưa giao tán để che phủ bảo vệ, cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu của đất.

- Có chế độ bón phân hợp lý. Bón phân hóa học cùng với phân hữu cơ. Không bón phân hóa học với liều lượng quá cao và liên tục nhiều năm làm môi trường đất thoái hóa, có lợi cho sinh vật gây hại phát triển hủy hoại vườn cây. Muốn sản xuất cà phê lâu bền nhất thiết phải bón phân hữu cơ, đây là một nguyên tắc của sản xuất bền vững đối với cây lâu năm.

Những điều đã nêu ở trên không phải là khó mà không thể thực hiện được. Vấn đề quyết định là: chúng ta phải trở thành nhà nông thông thái để áp dụng đồng bộ những tiến bộ kỹ thuật từ những căn cứ khoa học đã được xác định và khuyến cáo để vườn cây kinh doanh lâu bền và có hiệu quả cao ở cả hai phương diện kinh tế và môi trường.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

5 nhà khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam được tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” năm 2026
Sáng 2/10/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” lần thứ VII và trao giải Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” toàn quốc lần thứ XI năm 2026. Trong số 42 cá nhân được tôn vinh năm nay có 5 nhà khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu.
Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.