Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 28/11/2007 00:40 (GMT+7)

Cảm nhận về những thay đổi của tiếng Hà Nội

1.Hà Nội – không gian đô thị đặc thù

Cũng như hầu hết các đô thị lớn, Hà Nội có những đặc điểm chung, trước hết là sự tập trung dày đặc về mặt dân số, bên cạnh đó là sự phát triển của kinh tế sản xuất hàng hoá và thương mại. Song với tư cách là Thủ đô, Hà Nội, ngoài những đặc điểm cơ bản mà một không gian đô thị vốn có, nó còn là một không gian biểu tượng về văn hoá, vừa mang tính lịch sử lại vừa bị tác động bởi lịch sử. Nơi đây gắn với hệ thống di tích và dấu ấn vật thể từ các thời đại trước. Như ý kiến của một người nước ngoài nào đó là người ta “có thể gặp ngay trong thành phố những công trình văn hoá có từ thế kỷ 11 tới nay. Đến chỗ nào cũng gặp lịch sử...”. Có thể nói, Hà Nội trong lòng mỗi người luôn là biểu tượng văn hoá rực rỡ về một đô thành kể từ gần một nghìn năm lại đây. Trước khi là thành “Đại La”, mảnh đất “ngàn năm văn hiến” này là nơi đã tụ họp làm ăn, buôn bán của người bốn phương đất Việt. Dời đô vào năm 1010, Lý Công Uẩn đã đổi tên cho thành Đại La là “Thăng Long”, và vùng đất “kẻ chợ” chính thức đi vào lịch sử với tư cách là Thủ đô thời Trung đại của Việt nam. Trải qua bao biến cố lịch sử. Thủ đô Hà Nội đã thăng trầm cùng các triều đại dưới những tên gọi: Đại La, Thăng Long, Đông Đôrồi Hà Nội, và gắn với một loạt biểu tượng đi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc như Hồ Gươm, Tháp Rùa, Đền Ngọc Sơn, Chùa Một Cột, Tháp Bút, Văn Miếu Quốc Tử Giám, và sau này (khi mang tên Hà Nội) là Quảng trường Ba Đình, Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh... Song hành với những trang sử vẻ vang, văn hoá Thăng Long xưa cũng như Hà Nội thời hiện đại, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước luôn toả sáng và chuẩn mực trong tương quan với các địa phương cả nước. Một trong những “lợi thế” để “người Hà Nội” có cơ sở tinh thần nhào luyện, khuôn dũa tiếng nói của “địa phương” mình trở thành một “phương ngữ” ưu việt hơn hẳn so với các phương ngữ khác. Song, một cách chủ quan, nó cũng đồng thời là yếu tố gây áp lực về mặt tâm lí đối với những “tiểu cộng đồng nói năng”trong không gian đô thị là Hà Nội, mà đối tượng chịu áp lực tâm lí chủ yếu là những người đang phải cố gắng “hoà nhập” cuộc sống của mình với những “thổ dân” ở đây. Bởi vì, trong khi những “công dân” thực thụ của Hà Nội (theo quan niệm chung nhất về người Hà Nội ở mức tương đối), giống như hầu hết người thủ đô “gốc” trên thế giới mà ở đó tiếng thủ đô được coi là chuẩn, đều mang trong mình niềm tự hào về tiếng nói đẹp, thanh nhã, chuẩn mực, thì những người được coi là “dân nhập cư” lại phải đối mặt với sự “mặc cảm” của thứ tiếng nói chưa được “đô thị hoá” của mình. Mặt khác theo mức độ nào đó, nó phải được chú ý đặc biệt hơn khi đi vào nghiên cứu cụ thể những địa danh đô thị mà ở đó có sự cách biệt lớn giữa thành thị và nông thôn ở các mặt kinh tế, văn hoá. Sự mở rộng không gian của Hà Nội cả về diện tích lẫn đầu tư vật chất trong quá trình đô thị hoá để phù hợp với tầm vóc của một Thủ đô cũng là nét đặc thù quan trọng. Nó chính là nét đặc thù mà B.Thierry gọi là: “tính biến dịch không gian” (mobilité spatiale).Xét dưới góc độ ngôn ngữ, tính biến dịch này có liên quan khá mật thiết với tính đồng nhất của ngôn ngữ đô thị trong mối tương liên với cái gọi là “nếp gãy” (rupture).Những nét đặc thù này chắc hẳn không nằm ngoài loạt những yếu tố góp mặt vào việc tạo nên quá trình hoà trộn dẫn đeens thay đổi “tiếng nói” (langage)trong đó có mặt phong cách sử dụng ngôn từ cũng như tập tính nói năng của người Hà Nội ngày nay.

2.Cảm nhận về tiếng Hà Nội qua các giai đoạn lịch sử

Xét mặt văn hoá, tiếng Hà Nội được coi như một thứ di sản mà người dân Thủ đô thường tự hào. Là một phương ngữ tổng hợp, nó có những đặc điểm rất đáng lưu ý trong quá trình hình thành mà nếu nhìn nhận dưới góc độ lịch sử, thì đó chính là sản phẩm đặc biệt của những biến động xã hội đô thị. Khác với các tiểu phương ngữ khác, tiếng Hà Nội được hình thành trên cơ sở một quá trình hội tụ, chọn lọc của những tiểu phương ngữ (trong đó chủ yếu là các tiểu phương ngữ Bắc Bộ). Hay nói rõ hơn, nó là sự kết tinh có lựa chọn những tập tính ngôn ngữ từ sự giao thoa giữa các cộng đồngnói năngthuộc các phương ngữ tiểu vùng. Và quá trình giao thoa này sẽ còn tiếp tục khi sự biến dịch địa lí cũng như hiện tượng thâm nhập cư dân ngoại tỉnh vẫn tiếp diễn ở địa bàn Hà Nội.

Chúng ta cứ nói về tiếng Hà Nội và người Hà Nội, thế nhưng khái niệm về người Hà Nội, như các nhà nghiên cứu vẫn quan niệm không mang tính “gốc gác”, “bản địa” như những dân vùng khác, và hầu hết họ đều cho rằng rất khó để xác định một cá nhân nào đó thực sự là người Hà Nội nếu như không lấy một cái mốc thời gian tương đối từ khi người ấy bắt đầu sinh sống ở đây. Mặt khác, cũng cần làm rõ xem, trong một giới hạn không gian nào trên địa bàn Hà Nội, “người Hà Nội” mới thực sự nói tiếng của họ.Vì địa danh Hà Nội tồn tại trên hai phạm vi “nội thành” và “ngoại thành”. Thực chất, tiếng “Hà Nội”, theo những quan niệm trước đây, chỉ được khoanh vùng ở khu vực “ba mươi sáu phố phường” cũ. Ví dụ như nhà văn Tô Hoài cho rằng : “Không nên xem ngang nhau “tiếng bờ hồ Hoàn Kiếm hoặc chợ Đồng Xuân” với tiếng vùng ngoại ô. Bởi sự hình thành và nguồn gốc tạo nên tiếng nói, giọng nói hai vùng này hoàn toàn khác nhau”. Và ông coi “tiếng bờ hồ Hoàn Kiếm” là tiếng Hà Nội và tiếng ngoại ô là tiếng các làng.”Hay nhạc sĩ Lưu Hữu Phước có nhận xét: “trong thành phố Hà Nội và ngoại ô cũ, ngay cả một số làng ở phía tây bắc cách đây vài mươi năm còn phải phát âm dấu “sắc”, dấu “huyền” không giống ở bờ hồ Hoàn Kiếm hoặc chợ Đồng Xuân” {3. tr.112]. Nhà ngôn ngữ học Nguyễn Kim Thản cũng cho là: “... ở một số điểm ngoại thành ngày nay, bà con có giọng nói khác với giọng nói ở nội thành”[4. tr.50]. Dưới góc độ mô tả đồng đại lịch sử, những ý kiến trên đây hoàn toàn xác đáng. Tuy nhiên, sẽ là võ đoán và không phù hợp với hoàn cảnh thực tế nếu nhìn nhận vấn đề theo cách tĩnh như vậy. Bởi vì, “Theo thời gian – lịch sử, Hà Nội có những thay đổi về địa lí.” Vì thế, “nếu nhìn từ phương ngữ địa lí thì sẽ không có một khái niệm về tiếng Hà Nội chung chung mà chỉ có một tiếng Hà Nội ở từng giai đoạn lịch sử “tiếng Hà Nội - địa lí theo phân kì của lịch sử”[5.tr.172]. Như thế, đặt tiếng Hà Nội theo sự phân kì lịch sử để thấy được nét chung nhất của nó ứng với thay đổi của từng giai đoạn là hành động mang tính chủ quan, song lại có vẻ hợp lí. Bởi lẽ, Eni P.Orlandi khi đặt vấn đề nhìn nhận không gian đô thị trong một “phối cảnh nói năng” (perspective discursive),đã cho rằng “lịch sử và ngôn ngữ luôn gắn khớp với nhau để tạo nên một ý nghĩa nào đó” [6. tr.106]. Vậy thì, thiết nghĩ là hợp lí khi cho rằng, cùng với biến động của lịch sử, tiếng Hà Nội đã có những thay đổi (ít nhất là biến đổi ở ba phương diện ngữ âm, từ vựngphong cách). Nó mang tính khách quan, song cũng không phải không có nguyên nhân chủ quan, trong đó ý thức và thái độ của người nói góp phần không nhỏ vào những quá trình thay đổi này. Nếu coi yếu tố thời gian nằm trong quá trình thay đổi và chuyển tiếp của tiếng Hà Nội qua các thời kì, chúng tôi cho là hợp lí nếu chia sự thay đổi và chuyển tiếp của tiếng Hà Nội theo hai thời kì sau:

1/ Thời kì thứ nhất(Thăng Long từ thời Lý)

Giai đoạn bắt đầu được tạm tính từ thời điểm vua Lí Công Uốn dời đô từ Ninh Bìnhvề và đổi tên thành Đại LaThăng Long, và Thăng Long chính thức là thủ đô của chế độ phong kiến thời trung đại của Việt Nam. Qua suốt thời kì “Bắc thuộc” rời thời kì độc lập tự chủ, cả nước ta trong đó có Hà Nội chịu ảnh hưởng chung của nền văn hoá phương Bắc, mà cụ thể là văn hoá Hán, trong đó ngôn ngữ là cái thể hiện rõ nhất. Rất tiếc cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu Việt ngữ nào cho biết cụ thể về những đặc điểm tiếng nói của kinh thành Thăng Long xưa, cũng như việc mô tả lời ăn tiếng nói của người ở đây trong các giai đoạn lịch sử. Thế nhưng, chí ít thì trên thực tế, chúng ta ai cũng biết đây là thời kì mà dân tộc Việt Nam chưa có chữ Quốc ngữ. Chính vì vây, văn hoá Hán, tiếng Hán như giáo sư Hoàng Tuệ viết: “không còn là ngoại lai mà đã thành cổ truyền của dân mình rồi” [7. tr.9]. Tiếng Hán chính là “Quốc ngữ” cho đến khi người châu Âu bước vào với công nghệ truyền giáo, khai hoá và khai thác của họ. Vì vậy, về nguyên tắc, có thể suy ra theo kiểu “tam đoạn” là, người dân Thăng Long xưa chắc chắn có tiếng nói và tập tính ngôn ngữ khác với thời thuộc Pháp và ngày nay. Bởi vì, ngôn ngữ không chỉ đơn thuần là công cụ giao tiếp mà nó còn là sản phẩm của xã hội văn hoá cộng đồng.

2/ Thời kì thứ hai(từ khi có chữ Quốc ngữ)

1.1                    Giai đoạn từ 1873 – 1954

Theo sử sách, năm 1831 vua Minh Mạng cho lập ra tỉnh Hà Nội gồm bốn phủ: Hoài Đức, ứng Hoà, Lí Nhân, Thường Tín.Còn thành phố Hà Nội, từ khi người Pháp chính thức đặt ách đô hộ cho đến năm 1888 tổng thống Pháp mới ra quyết định thành lập. Nó bao gồm phần lớn đất đai của hai huyện Vĩnh Thuận và Thọ Xương. Người Pháp thực hiện việc cai trị của họ với chính sách “Pháp hoá” (franciser) dân bản xứ. Và muốn Pháp hoá được, trước hết phải tiến hành việc “phi Hán hoá” ( désiniser) đoíi với xã hội Việt Nam đến gốc rễ dưới mọi hình thức. Việc sáng tạo ra chữ quốc ngữ của những người truyền giáo da trắng cho dân bản xứ, trước hết giúp họ thực hiện công việc truyền giáo thuận lợi hơn. Mặt khác, vô hình trung đã trở thành một tác nhân không nhỏ cho mục tiêu “Pháp hoá” của chính quyền thực dân. Trước tình hình ấy, giới trí thức Nho học của nước ta (đặc biệt là những trí thức của “Hà Nội mới”) thời bấy giờ rơi vào “bi kịch” của sự chọn lựa: từ bỏ tiếng Hán, văn hoá Hán vốn “không còn là ngoại lai”, nhưng khó có thể giữ nguyên vị trí trong hoàn cảnh đất nước đang nằm trong sự kiểm soát của người Pháp, hay chấp nhận nền văn minh, văn hoá phương Tây mà người Pháp đại diện lúc ấy là “ngoại lai” đích thực? Trong điều kiện xã hội như thế, nhiều trí thức Nho học thức thời đã chấp nhận đến với “Tây học”. Như thế là, xét riêng về mặt ngôn ngữ, xã hội Việt Nam, và nhất là ở thủ đô Hà Nội ữ pháđã có một sự thay đổi cơ bản trong sử dụng ( chữ viếttrong tương quan với hệ thống kí hiệu, ngữ pháptrong sự so sánh hình thái với tiếng Hán). Và đặc biệt hơn, hệ quả của sự thay đổi trong sử dụng ngôn ngữ đã dẫn đến thay đổi tiếng nói. Dù chưa được khảo sát cụ thể, nhưng những thay đổi ngôn ngữ giữa hai gia đoạn này chắc cũng không phải là vấn đề khó nhận biết . Hơn nữa, cũng không vì thế mà những thay đổi mang tính hệ quả từ sự kiện thay thế chữ Hán bằng chữ Quốc ngữ lại không được thừa nhận. Chẳng hạn, chúng ta hoàn toàn có thể đồng ý với nhau là, cùng với thời gian, tiếng Hán, văn hoá Hán ở kinh thành Thăng Long xưa cứ dần được thay thế bằng chữ Quốc ngữ và văn hoá “Quốc ngữ” ở từng bộ phận người sử dụng, phạm vi sử dụng theo từng mức độ khác nhau. Thay đổi tiếng nói, chữ viết có thể coi gần như đồng nghĩa với sự thay đổi tập tính sử dụng ngôn ngữ của xã hội nói chung, và của từng cộng đồngnói năngthuộc xã hội ấy. Ví dụ, để xưng và gọi nhau, rất nhiều cặp vợ chồng ờ Hà Nội thời thuộc Pháp gọi chồng là “ cậu” xưng “em” hoặc “tôi”, hay gọi vợ là “mợ”.Hoặc con cái một số nhà tầng lớp trên gọi cha mẹ là “ ba, me” (cách xưng gọi này phản ánh thứ văn hoá Tây học của một số người tầng lớp trên ở Hà Nội du nhập, bắt chước cách gọi của người Pháp là: “ pa pa” hay “ mère”.

1.2                    Giai đoạn từ 1954 – 1975

Giai đoạn này, lịch sử đất nước được đánh dấu bằng chiến thắng Điện Biên Phủ – cái mốc lịch sử chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ của thực dân. Cùng với cả nước, Hà Nội cũng bước sang trang mới sau sự kiện thủ đô dược giải phóng. Bắt đầu từ đây, Hà Nội cùng nửa đất nước là miền Bắc bắt tay vào xây dựng đất nước theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, đó là con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.Chế độ chính trị, xã hội thay đổi tất yếu sẽ dẫn đến những thay đổi văn hoá, trong đó ngôn ngữ đóng vai trò là công cụ phản ánh tư duy xã hội cũng như văn hoá, đương nhiên cũng phải có những bước chuyển cho phù hợp với một chế độ xã hội mới. Trong giao tiếp, xã hội thời ấy mất đi các từ như con sen, thằng xe, cao lâu, cô đầu, thầy đội, thầy cai,... hay thay vào các từ cò, cẩm, sở cẩm, sở liêm phóng, đoan, thông ngôn, kí lục, cu li... bằng các từ công an, cảnh sát, sở công an, sở cảnh sát, sở mật thám, thuế, phiên dịch, thư kí, công nhân...Và tất nhiên các từ mới (hay các từ trước đây xã hội cũ không dùng) cũng xuất hiện trong các lĩnh vực văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội như: nghệ sĩ, ca sĩ, xã hội chủ nghĩa, kế hoạch năm năm,, điện khí hoá, kinh tế XHCN...

1.3                    Giai đoạn từ 1975 đến nay

Dưới góc nhìn đồng đại, có thể nói đây là giai đoạn tiếng Hà Nội được thử thách trước những biến động xã hội lớn lao. Một lần nữa, quá trình thu nạp và tiếp biếnngôn ngữ lại xảy ra. Sau khi miền Nam giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất, nhân dân hai miền tự do đi lại, trao đổi. Trong quá trình đi lại, tiếp xúc giữa hai khối cộng đồng Nam – Bắc, nếu nhìn thuần tuý dưới góc độ ngôn ngữ, người ta thấy nổi lên một hiện tượng mà xét cho cùng chỉ là sự thể hiện nét đặc trưng bản chất về quá trình hình thành tiếng Hà Nội khi có sự tiếp xúc và giao thoa giữa hai cộng đồng nói năngvốn ít nhiều tách biệt. Đó là sự thâm nhập (hay đúng hơn là sự “tiếp thu” của dân miền Bắc mà tiêu biểu là người Hà Nội) của một lớp từ vựng thuộc phương ngữ, hay tiểu vùng phương ngữ Nam Bộ trước hết vào vốn từ khẩu ngữ của người sử dụng, sau đó dần đi vào cả trong báo chí và văn học, chẳng hạn: bầu (mang trong có mang), bồ, bồ bịch, cặp bồ, hết xảy, dữ, bao, tá lả, trái cây, heo, phê, kì (trong kì quặc), đã, quậy phá, cù lần, xỉn, say xỉn, xịn (trong hàng xịn, đồ xịn)...hay cách nói mang phong cách Nam Bộ kiểu như: hết xí quách, cực kì luôn, hết chịu nổi, quá trời quá đất, mất tiêu, nói hoài, gọi hoài, dễ sợ, dễ sợ liền, ông nội, cha nội...hoặc các phát ngôn có ngữ khí từ đằng sau (như; hà) rất tiêu biểu cho phương ngữ Nam Bộ: “nó đi rồi hà”, “nó làm rồi hà”, “có người trong đó hà”...( trong những trường hợp vừa nêu không phải để hỏi, mà chỉ mang sắc thái khẳng định). Cho đến nay, mặc dù lớp từ này vẫn bị coi là “tiếng miền Nam”, song, nhìn chung thì nó đã gần như được “kết nạp” chính thức vào vốn từ thường dùng của vùng phương ngữ Bắc nói chung và đặc biệt Hà Nội nói riêng. Thực tế chứng minh rằng, khi người Hà Nội nào đó dùng các từ hay các cách nói đã nêu trên trong phát ngôn của mình, thì trong ý thức của người nghe, người ấy không phải “vay mượn” hay bắt chước “tiếng miền Nam”, mà chỉ là thể hiện phong cách ngôn ngữ cá nhân. Qua quan sát, giao tiếp ngôn ngữ giữa các cá nhân, tài liệu sách báo và phương tiện thông tin đại chúng thì thấy, tiếng Hà Nội từ khoảng hai mươi năm trở lại đây thay đổi không chỉ về mặt từ vựng, mà cả ngữ âm, đặc biệt vai trò của dụng pháp ( pragamtic aspect) trong những lối nói khẩu ngữ đã góp phần tạo nên một phong cách mới hiện đại, linh hoạt cho tiếng Hà Nội. Trước hết về ngữ âm, để ý cách phát âm của lớp trẻ được sinh ra, lớn lên ở Hà Nội (chủ yếu là nữ giới ở lứa tuổi dưới 30) hiện nay, xu thế kéo dài nguyên âm chính ở những tà có vần “ eo”thành [ ieo] rất rõ.Ví dụ: “ béo” phát âm thành [ bieo]; “ mèo” thành [ mieo]. Hoặc, thay vào cách phát âm “tròn vành rõ chữ” nhưng vẫn có điểm lướt tạo cho người nghe cảm giác nhẹ và tinh tế của tiếng Hà Nội trước đây, thì ngày nay, trong khi nói năng, tuy họ vần giữ nguyên ưu điểm là phát âm rõ cả sáu thanh, và vẫn thể hiện rõ sự “thiếu vắng” một số phụ âm quặt lưỡi là một trong những đặc trưng ngữ âm cơ bản của tiếng Hà Nội. Nhưng tiếng Hà Nội ngày nay nghe có cảm giác “nặng” hơn. Bên cạnh đó, hoạt động của chức năng dụng pháp đã làm nên một loại “ngữ pháp lời”, mà theo cách phân tích ngữ pháp truyền thốngcủa tiếng Việt thì đó là cách dùng có vẻ “bất thường”, thậm chí là sai. Còn dưới góc độ xã hội của ngôn ngữ, người ta có thể cho đó là sự “quá khích” trong sử dụng ngôn từ có tác dụng gây ấn tượng. Ví dụ, ngày nay có thể bắt gặp khá thường xuyên trong các cuộc hội thoại (chủ yếu là giữa lớp trẻ) những phát ngôn cùng cấu trúc có từ “bị”, nhưng không có ý nghĩa bị động như: hơi bị xinh; hơi bị đẹp; hơi bị được....ảnh hưởng sự xâm nhập của tiếng Anh cũng góp phần làm cho phong cách giao tiếp ngôn ngữ có thêm nét mới. Người ta thấy xuất hiện khá nhiều ở các cuộc gặp mặt hay đối thoại (tuỳ theo bối cảnh giao tiếp, mối quan hệ hay vị thế của các vai giao tiếp, có thể trực diện, có thể qua điện thaọi ) những từ như “ hello”, “ bye bye”, “ OK” với hai phong cách: “thân mật” và “tuỳ tiện”. Tiếng Hà Nội ngày nay đúng là đang mất dần phong cách “gọi dạ, bảo vâng” câu nệ, lịch lãm mà người ngoài tỉnh vẫn cho là “cầu kì”, “khuôn sáo”, thậm chí còn bị coi là “ngoại giao” giả tạo, “thiếu nhiệt tình”. Thay dần vào đó là một phong cách đơn giản, ít cầu kì hơn mà “vẫn bảo toàn sự trang nhã và lịch sự”. Và tác giả bài viết “Bước đầu nhận xét về “tiếng Hà Nội” qua hai xóm mà tôi đã ở”có lí khi nghĩ tới “khả năng là có một tiếng Hà Nội trước đây và một tiếng Hà Nội hôm nay”,“giữa hai tiếng đó là một sự thay đổi và chuyển tiếp”[8.tr.75]. Tuy nhiên sự thay đổi bao gồm cả phần “tiêu cực”, đúng như nhà Hfa Nội học Nguyễn Vinh Phúc nhận xét: “Thời gian gần đây, cùng với những yếu tố của thị trường, bên cạnh những cái được về mặt kinh tế, một bộ phận cư dân Hà Nội bây giờ có thể nói rằng.... ăn thì phàm phu, mặc thị kệch cỡm, nói thì thiếu sự lễ độ...” [9.tr.3]. Thế nhưng, xét cho cùng, tất cả những thay đổi như thế của tiếng Hà Nội ngày nay có lẽ không nằm ngoài hệ quả tất yếu từ những tác nhân chủ yếu: 1/ Sự quá tải của không gian đô thị Hà Nội với dân nhập cư. 2/Mở rộng không gian trong quá trình đô thị hoá Hà Nội. 3/ Tác động đa chiều của nền kinh tế thị trường.Về hình thức, đây là những nguyên nhân rất cơ bản mà nhìn chung mỗi đô thị, đặc biệt là các thành phố lớn đều chịu ảnh hưởng dưới góc độ hoạt động ngôn ngữ.

                                      

Tài liệu tham khảo và trích dẫn

1.                  Juliette Garmadi – Lasociolinguistique(Presses Universitaires de France.1982)

2.                  B.Thierry – Langue urbaine et identié (L’ Larmâttn/1999)

3.                  Tô Hoài – Tiếng Hà Nội(Ngôn ngữ & văn hoá 990 năm Thăng Long – Hà Nội /2000)

4.                  Nguyễn Kim Thản – Lời ăn tiếng nói của người Hà Nội(Nxb Hà Nội/1982)

5.                  Nguyễn Văn Khang – Về khái niệm ‘tiếng Hà Nội’(Ngôn ngữ & văn hoá 990 năm Thăng Long – Hà Nội /2000)

6.                  Eni P. Orlandi – La villecomme espace politico-symbolique. Des paroles dé sorganisées au recit urbain(langage et socété. No 96/2001)

7.                  Hoàng Tuệ – Tâm hồn và trí tuệ của Phan Khôi trong ‘ Việt ngữ nghiên cứu’(Phan Khôi – Việt ngữ nghiên cứu. Nxb Đà Nẵng)

8.                  Đinh Văn Đức – Bước đầu nhận xét về  ‘tiếng Hà Nội’ qua hai xóm mà tôi đã ở(Ngôn ngữ & văn hoá 990 năm Thăng Long – Hà Nội /2000)

9.                  Nguyễn Vinh Phúc – Văn hoá hoá Hà Nội tiềm năng và tháchthức (Báo Văn nghệ trẻ số 34/2004)

Nguồn: TC Ngôn ngữ - Đời sống, số 12 (110) - 2004

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.