Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 21/09/2007 00:10 (GMT+7)

Cải tạo vườn tạp

I. Hiện trạng sản xuất cây ăn quả ở Việt Nam

1. Diện tích - sản lượng quả:

Việt Namcó điều kiện đất đai, khí hậu đa dạng trải dài từ cận nhiệt đới ở miền Bắc đến nhiệt đới ở miền Nam . Nhiều giống quả có thể sinh trưởng được trong đó phải kể đến: mận, mơ, hồng, cam, quýt, bưởi, xoài, nhãn, vải, măng cụt, chôm, chôm, chuối, dứa v.v..

Diện tích năm 1997: 390.000 ha sản lượng 3,8 triệu tấn, năm 1998 khoảng 425.000 ha sản lượng ước đạt 4 triệu tấn quả. Loại quả chính là chuối, dứa, xoài, nhãn, vải, cây có múi. Sự phát triển cây ăn quả với thị trường trong nước và xuất khẩu đã mang lại thu nhập cao cho người nông dân, phải kể đến nhãn, vải, xoài, cây có múi.

Diện tích cây ăn quả tăng chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, trung du và miền núi phía Bắc: Ước tính diện tích ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long 50%, trung du và miền núi phía Bắc chiếm 15% diện tích cả nước, còn lại 25% là các vùng khác. Về sản lượng các tỉnh ĐBSCL chiếm 60%, trung du và miền núi phía Bắc chiếm 5%.

2. Giống cây ăn quả:

Việt Nam có nhiều giống cây ăn quả bản địa phong phú. Tuy nhiên sự phong phú ấy không được khai thác mang tính thương mại, ví dụ: giống dứa queen chất lượng tốt thơm ngon nhưng quả nhỏ sản xuất công nghiệp hiệu quả thấp, chủ yếu dùng ăn tươi. Vải thiều cũng chỉ để ăn tươi nhưng khi chế biến đóng hộp thì sau 2 - 3 tháng cùi và nước vải bị đổi màu do vải thiều của ta bị đỏ đuôi và nâu cùi. Với nhãn, hầu hết các giống đang trồng ở cả Nam , Bắc chất lượng đều thấp so với các nước trồng nhãn trong khu vực. Nhìn chung nhãn quả nhỏ, hạt to, cùi nhão, quá nhiều nước và năng suất thấp. Với xoài nhiều giống tồn tại ở Việt Nam, đặc biệt là miền Nam , cần được tiêu chuẩn hoá để xuất khẩu vì các giống khác nhau có kích thước, mùi vị, màu sắc cũng khác nhau. Nhiều giống luân phiên nhau ra hoa kết quả dễ bị nhiễm bệnh, chất lượng, năng suất thấp. Các giống xoài ở miền Bắc chất lượng thấp, năng suất thấp không có khả năng xuất khẩu.

3. Sâu bệnh:

Nhiều cây ăn quả ở Việt Nam như nhãn, vải, xoài v.v.. ít bị nhiễm bệnh, nhưng một số loại cây ăn quả có múi lại nhạy cảm với bệnh virus (greening), làm giảm năng suất sau đó làm cho cây chết dần chết mòn. Virus ủ trong cây kéo dài 5 - 15 năm.

Về côn trùng gây hại : có loài không gây nhiều tổn thất, nhưng cũng có loài gây hại nghiêm trọng. Loài gây hại nhiều cho nhãn, vải là bọ xít, nhện. Loại ruồi đẻ trứng vào quả cho xoài, đào v.v.. Khắc phục tổn thất cần phải phun thuốc bảo vệ thực vật đúng liều lượng, đúng thời gian, đảm bảo an toàn thực phẩm, môi sinh môi trường.

4. Hệ thống vườn:

Hầu hết cây ăn quả được trồng ở ruộng cao, vườn với quy mô từ vài cây đến vài ha, (0,5 - 2,0 ha). Phần lớn trang trại ở miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và miền núi phía Bắc trồng cây ăn quả.

Có 3 mô hình trồng trọt được áp dụng:

- Trồng luống (líp) tại vùng thấp.

- Trồng phẳng ở vùng đất bằng phẳng.

- Trồng trên đất bậc thang tại vùng núi.

5. Lao động:

- Lao động gia đình đối với vườn nhỏ.

- Ở cac vườn lớn, người ta thuê nhân công thuê để thực hiện công việc nặng nhọc như đào hố, bón phân, phun thuốc BVTV v.v..

6. Tiêu thụ sản phẩm:

- Nội tiêu là chủ yếu: Theo đánh giá của PAO mức tiêu thụ quả của Việt Nam hiện nay là 48 kg/người trong khi đó châu Á 62 kg/người, châu Phi 77 kg/người, Mỹ La Tinh 169 kg/người. Với mức tăng trưởng kinh tế 5 - 10%, dân số tăng 2%/năm, mức tiêu thụ bình quân tăng 10% ở những năm tiếp theo, như vậy nhu cầu nội tiêu còn rất lớn.

- Xuất khẩu: Ước tính khoảng 50.000 tấn quả tươi năm 1998 chủ yếu chuối, vải, xoài cho thị trường Trung Quốc, Đài Loan, Singapore. Riêng vải thiều năm 1998 ước xuất tươi được 40% sản lượng. Năm 1999 thị trường xuất quả tươi không có nên một khối lượng lớn được sấy khô chờ thị trường xuất khẩu.

7. Chế biến:

Hiện nay Việt Nam mới chế biến được từ 12 - 13% tổng sản lượng quả tươi (khoảng 500.000 tấn) chủ yếu dưới dạng đóng hộp, nước quả cô đặc, sấy khô phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu chủ yếu là dứa, xoài, mơ, chuối.

Đánh giá chung:

Hiện trạng phát triển cây ăn quả ở Việt Nam đang ở mức độ thấp so với các nước trong khu vực. Sản lượng quả còn ít, chất lượng quả thấp, sản xuất mang tính chất tự cung tự cấp, sản phẩm chủ yếu nội tiêu. Một số lượng nhỏ quả được chế biến xuất khẩu giá trị chưa cao, chưa có mặt hàng chiến lược. Một trong những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế nêu trên là sản xuất cây ăn quả còn manh mún chủ yếu là vườn tạp, vườn cây ăn quả kinh tế, trang trại, cây ăn quả  kinh tế còn ít, chất lượng giống quả chưa được cải thiện. Để cải thiện dinh dưỡng cho nông dân, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người làm vườn góp phần từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn cần phải cải tạo vườn tạp thành vườn kinh tế.

  II. Cải tạo vườn tạp:

1. Khái niệm vườn tạp:

Vườn tạp là vườn cây gồm nhiều loại cây: cây ăn quả, cây công nghiệp, cây làm thuốc v.v.. cùng sinh sống, phát triển trên một diện tích đất nhất định. Sản phẩm thu được rải rác qua nhiều tháng không xác định được sản phẩm chính, thu nhập giá trị không cao.

2. Mục đích cải tạo vườn tạp:

Cải tạo vườn cây gồm nhiều loại cây, hiệu quả kinh tế thấp thành vườn cây có hiệu quả kinh tế cao hơn. Nhằm nâng cao thu nhập, mức sống cho người làm vườn.

3. Phương hướng cải tạo:

-Cần xác định những cây có giá trị hiện có trong vườn, phù hợp với quy hoạch phát triển của vùng đặc biệt phục vụ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thì giữ lại (không nên xoá trắng).

Ví dụ: trong vườn có vải thiều, nhãn, mít, hồng, dứa của nông dân Vĩnh Phúc cần xác định cây chính là vải thiều, dứa, ngoài mục đích ăn tươi còn phục vụ nguyên liệu cho nhà máy chế biến thực phẩm Vĩnh Phúc (Tam Dương).

4. Biện pháp cải tạo vườn tạp:

4.1. Hiện nay phát triển cây ăn quả đang tăng do giá quả tăng, thu nhập hấp dẫn, tương lai người nông dân sẽ bỏ vốn và công sức vào trồng cây ăn quả. Các cơ quan quản lý Nhà nước, viện nghiên cứu, nhà vườn được phép nhân giống cần có cây giống và kỹ thuật thâm canh tốt phục vụ người làm vườn.

4.2. Trồng cây ăn quả ngoài phục vụ ăn tươi còn phục vụ chế biến, xuất khẩu, muốn vậy phải gắn liền với đổi mới công nghệ và công tác tiếp thị của các doanh nghiệp nhằm nâng cao giá mua cho người làm vườn.

4.3. Trồng các loại cây ăn quả cùng chủng loại cây của vùng chuyên canh gần đó. Mỗi hộ nên trồng 2 loại cây ăn quả đặc trưng làm chủ đạo.

4.4. Người làm vườn chỉ trồng những giống cây ăn quả đã được cải tiến về chất lượng như: vải thiều không đỏ ở đuôi, cùi và nâu cùi. Giống nhãn lồng quả to, cùi dày, khô cùi, dễ bóc, trọng lượng 70 - 80 quả/1 kg. Đối với dứa ở gần nhà máy chế biến dứa khoanh, nước dứa cô đặc nên trồng dứa cayene.

4.5. Nâng cao chất lượng vườn cây bằng các biện pháp kỹ thuật thâm canh, trồng dày hợp lý, xén tỉa, tưới tiêu.

4.6. Hướng dẫn để người làm vườn nắm được kỹ thuật thu hái và bảo quản trong quá trình vận chuyển: thu hái nhẹ nhàng, loại bỏ những quả dập nát để tránh lây lan mầm bệnh cho những quả lành. Quả được đựng trong thùng, sọt cứng có lót giấy khi vận chuyển.

4.7. Tín dụng nâng cao chất lượng cây ăn quả: Nông dân nghèo thiếu vốn không có khả năng chịu được rủi ro, nhà nước cần tăng các khoản tín dụng dài hạn cho việc phát triển cây ăn quả chất lượng, đủ tiêu chuẩn chế biến xuất khẩu. Hơn nữa, nông dân nghèo không có đủ đất để trồng cây ăn quả theo diện tích kinh tế. Nhà nước phải động viên nông dân tham gia vào việc phát triển cây ăn quả bằng cách giao đất cho hộ nông dân hỗ trợ các vùng trọng điểm để thúc đẩy việc hình thành các nhóm nông dân sản xuất hàng hoá.

4.8. Các giải pháp kỹ thuật cho các loại cây ăn quả chính. Mục đích chính của việc tác động kỹ thuật cho các loại cây ăn quả chủ yếu được nêu trong bảng dưới đây, ví dụ: Cây vải thiều.

Các hoạt động

Những khó khăn (tồn tại)

Các giải pháp

- Vườn ươm cây con

- Hầu hết giống cây lấy từ cây mẹ không rõ xuất xứ, kết quả năng suất, chất lượng không chắc chắn.

- Vườn ươm không đủ tiêu chuẩn, không có chứng chỉ chất lượng của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

- Hầu hết các giống vải được sản xuất bằng phương pháp chiết cành, không có đốn tỉa, tạo hình.

- Xác định cây mẹ đạt tiêu chuẩn phẩm chất, năng suất.

- Xây dựng vườn ươm có đủ tiêu chuẩn, cây giống được cấp chứng chỉ chất lượng của cơ quan có thẩm quyền trước khi xuất vườn.

- Chuyển từ phương pháp nhân giống bằng chiết sang ghép, đốn tỉa tạo hình.

- Quản lý vườn cây ăn quả

- Không có tỉa cành, không có thụ phấn bổ sung, hiếm khi có tưới, ít bón phân.

- Cần tỉa cành tạo tán cho cây thoáng, hình dáng đẹp, tận dụng được ánh sáng.

- Tưới nước bổ sung khi hạn.

- Bón phân đủ lượng cân đối.

- Sau thu hoạch

- Thu quả khi còn sương hoặc sau khi mưa quả chưa ráo nước.

- Quả thu xong không vận chuyển ngay về nhà thường bị nắng, nóng.

- Không thu hoạch quá sớm, sau mưa khi quả còn ướt.

- Không phơi quả dưới nắng, không để quả quá nhiều trong một dụng cụ khi thu hoạch.

- Loại bỏ quả thối dập nát.

   

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Khai mạc hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8
Với chủ đề “Tự động hoá thông minh - công nghệ chiến lược của Kỷ nguyên số”, hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8 (VCCA 2026) đã khai mạc sáng 16/7 tại Trường Đại học Quy Nhơn (tỉnh Gia Lai). Sự kiện quy tụ gần 400 trăm nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp trong nước và quốc tế nhằm chia sẻ các xu hướng công nghệ chiến lược.
Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới"
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới". Trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị.
Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.