Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 09/09/2011 20:46 (GMT+7)

Bộ Luật “Lê Triều Hình Luật” và ý nghĩa của nó đối với nước ta hiện nay

Tính hiệu quả của hệ thống pháp luật, do đó, trở thành thước đo của sự ổn định quốc gia, bởi lẽ nếu pháp luật nghiêm minh, thưởng phạt đúng người đúng việc, xuất phát từ lợi ích chung, hay đảm bảo “chính danh” đối với tất cả các mối quan hệ, các thứ bậc xã hội, thì sẽ góp phần làm cho guồng máy nhà nước vận hành tốt, trên dưới đồng lòng. Trong trường hợp đó, lợi ích của lực lượng thống trị xã hội đồng nhất với lợi ích quốc gia, dân tộc. Sự đồng thuận này có ý nghĩa tích cực ở chỗ, chẳng hạn, nếu diễn ra những sự kiện ảnh hưởng đến toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia thì các lực lượng xã hội sẽ được huy động tối đa, trở thành sức mạnh không thể ngăn nổi, xuất phát từ sự nhận thức về mục tiêu chung.

Thời Trần, bắt đầu từ tinh thần pháp trị của Trần Thủ Độ, với sự nghiêm minh và công bằng, lấy kỷ cương phép nước và khoan dung văn hóa làm cơ sở, đã tập hợp các tầng lớp nhân dân trong ba lần đánh thắng quân xâm lược phương Bắc. Ngược lại, sự buông lỏng kỷ cương, coi thường phép nước, hoặc xây dựng một hệ thống pháp luật cố tâm bảo vệ lợi ích của một tông tộc, một nhóm cầm quyền mà xem nhẹ lợi ích quốc gia, dân tộc, sẽ là mầm mống của bất ổn và khủng hoảng xã hội, thậm chí dẫn đến nguy cơ mất nước. Lịch sử dân tộc suốt ngàn năm qua không dưới một lần đã để lại thêm một bài học kinh nghiệm xương máu, đó là: đôi khi một hệ thống pháp luật hết sức chặt chẽ, nghiêm minh, nhưng không dựa trên sự hiểu biết bản chất con người, không tìm được sự “trung hòa” với yếu tố tâm lý, đạo lý dân tộc, thì cũng không phát huy tác dụng tích cực, nghĩa là thiếu tính hiệu quả xét ở bình diện thu phục nhân tâm. Hồ Quý Ly là một ví dụ điển hình. Đặt sang bên cách thức đi đến quyền lực không được “hợp pháp”, vốn không xa lạ trong lịch sử Việt Nam, có thể nhận thấy ở ông một vị vua có đầu óc cải cách, tha thiết đổi mới hệ thống quyền lực, ra sức củng cố sức mạnh quốc phòng, lấy ổn định xã tắc giang sơn và chủ quyền dân tộc làm mục tiêu của chính sách đối nội và đối ngoại. Tuy nhiên, cuối cùng binh hùng tướng mạnh của cha con Hồ Quý Ly không đủ sức bảo vệ đất nước trước quân xâm lược nhà Minh chỉ vì hai chữ nhân tâm. Từ trường hợp đau lòng này, những người lãnh đạo và nhân dân ta rút ra bài học lớn trong suốt hơn 500 năm qua, đó là: một bộ luật dù nghiêm túc đến đâu, thì cũng phải tính đến khả năng hiện thực hóa nó trong cuộc sống, và biết “lắng nghe” sự phản biện từ các tầng lớp nhân dân, thì mới có thể gọi là một bộ luật hợp lòng người. Hơn nữa, để có hệ thống pháp chế nghiêm minh, thì bản thân người đứng đầu cũng phải chấp hành một cách triệt để, làm gương cho thiên hạ về tư cách, đức độ. Tìm hiểu lịch sử thăng trầm của dân tộc, chúng ta càng nhận thấy ý nghĩa to lớn của luật Hồng Đức, một kiệt tác của lịch sử, vượt ra khỏi khuôn khổ của những điều luật khô khan.

Lê triều hình luật, hay Quốc triều hình luật được biên soạn dưới triều Lê Thánh Tông (năm 1483), niên hiệu Hồng Đức, nên được gọi là Luật Hồng Đức. Bộ luật này, với những nội dung cụ thể, liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đã trở thành cơ sở pháp lý chủ yếu của xã hội Việt Nam thời phong kiến trong nhiều thế kỷ. Trải qua bao thăng trầm, đến nay bộ luật này hầu như còn nguyên vẹn, trong đó có cả các bình chú và hướng dẫn. Lê triều hình luậtthể hiện quan điểm kế thừa của vua Lê Thánh Tông, dựa trên những luật lệ trước đó như các Hình Thư thời Lý, Trần; các quy định của pháp luật đã ban bố và thi hành trong các triều vua luật đã ban bố và thi hành trong các triều vua thời Lê sơ, như Luật Thư (6 quyển) của Nguyễn Trãi và Quốc Triều Luật Lệnh của Phan Phu Tiên (6 quyển), cả hai đều được làm vào khoảng thời gian từ 1440 - 1442.

Lê triều hình luậtgồm 6 quyển, trong đó 5 quyển có 2 chương và 1 quyển có 6 chương, cả thảy là 16 chương, 722 điều. Ngoài ra, trước khi đi vào các chương và điều thì Lê triều hình luậtcòn có các biểu đồ quy định về các hạng để tang và tang phục (bản đồ để tang chín hàng họ trong họ nội), kích thước và các hình cụ (roi, trượng, gông, dây sắt…). Các quy định trong luật không chỉ đề cập đến yếu tố hình sự, mà thông qua đó, thể hiện tư tưởng nhân văn của Lê Thánh Tông được thể hiện trong Lê triều hình luật (cho thấy sự khác biệt giữa luật hiện thực và khoa học kỹ thuật làm luật, được xác lập trên cơ sở bản chất, đặc trưng của người Việt).

Lê triều hình luậtcó tham khảo luật nhà Đường (Trung Quốc). Tuy nhiên, đó không phải là sự sao chép thuần túy các quy định của pháp luật thời Đường, mà thể hiện rất rõ nét đặc thù của pháp luật Đại Việt, phản ánh chân thực và sâu sắc hiện thực xã hội nước ta thế kỷ XV. Luật của nhà Đường lấy tính cách và tinh thần người Trung Quốc làm khuôn mẫu, do đó, trong rất nhiều quy định đã xuất phát từ điều kiện sinh hoạt của người Trung Quốc, với những ràng buộc mà khi áp dụng cho các quốc gia khác, trong đó có nước ta, sẽ trở nên không phù hợp. Hơn thế nữa, các hình phạt của luật nhà Đường hướng đến mục đích củng cố vương quyền, còn các quy định của Lê Thánh Tông trong Luật Hồng Đứckhông chỉ giới hạn trong yếu tố bảo vệ chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc Nghiên cứu bộ Lê triều hình luậtcho thấy, những quy định trong bộ luật này có rất nhiều điểm tiến bộ so với các bộ luật đương thời trong khu vực châu Á. Chẳng hạn trong bộ Luật Hồng Đứccó nhiều điều quy định rõ trách nhiệm bảo vệ đường biên, vùng biển, cửa quan. Các hành vi xâm phạm an ninh và toàn vẹn lãnh thổ bị trừng trị nghiêm khắc. Trong bộ Luật Hồng Đứccó nhiều điều quy định rõ về việc xử phạt đối với các hành vi ấy. Ví dụ: “Người trốn qua cửa quan ra khỏi bên giới đi sang nước khác thì bị chém” (Điều 71: Những ai trốn cửa ải, vượt biên giới ra nước ngoài thì bị xử chém). Người giữ cửa ải (coi xét cửa biển cũng vậy) không biết thì bị lưu đày châu xa” hoặc “Những người bán ruộng đất ở bờ cõi cho người nước ngoài thì bị chém” (Điều 74: Ai bán nô tì và voi ngựa cho người nước ngoài thì bị chém. Quan phường xã biết mà không tố giác thì giảm một bực tội. Quan lộ, huyện trấn dung túng thì tội giống việc kẻ bán kia. Vô tình không biết thì xử tội biếm, phạt)… Đối với nhà Lê, và không chỉ nhà Lê, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều thiêng liêng, sống còn. Cho nên tội phản quốc là tội không tha, cho dù kẻ đó là người của hoàng tộc.

Vua Lê Thánh Tông còn ban hành các đạo dụ, những sắc chỉ quy định việc kê khai, kiểm tra dân số của toàn vương quốc, đặt ra luật lệ về chế độ binh dịch mà ngày nay chúng ta gọi là nghĩa vụ quân sự; Đặt ra phép quân điền cùng với việc xây dựng quân đội chính quy, thiện chiến làm cho đất nước luôn ở trong tình trạng đầy đủ sức mạnh để đập tan mọi mưu toan xâm lược ví như “Khi đánh giặc mà tướng hiệu bất hòa, và tiết lộ quân cơ, làm lính ngã lòng, tất cả đều bị chém”.

Dưới chế độ phong kiến, nông nghiệp là nền tảng của xã hội. Quả là đúng, khi vua Lê Thánh Tông ngay từ ngày đầu lên trị vì đã lấy việc mở mang nông nghiệp làm trọng. Trong chương điền sản (đất, ruộng) có đoạn “Những nhà quyền thế chiếm đoạt nhà cửa ruộng đất, ao đảm của lương dân từ 1 mẫu trở lên thì xử phạt”, hoặc “Trong hạt mình cai quản có cọp, sói, heo rừng… làm hại dân, phá hại hoa mầu mà không lập mưu bắt chúng thì xử tội biếm”.

Trước hết, trong việc cải cách hành chính, Nhà vua đã đặt ra các cơ quan chuyên trách về việc chấn hưng nông nghiệp như đặt ra bốn cơ quan mới: Sở tầm tang chuyên chăm lo khuyến khích việc trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa; Sở thực thái chuyên lo việc trồng rau; Sở điền mục chuyên lo việc chăn nuôi gia súc, gia cầm và Sở đồn điền chuyên lo việc ruộng đất. Ông còn đặt thêm chức quan mới: Quan Hà đê để chăm lo việc đắp đê, hộ đê, phòng chống bão lụt.

Vua Lê Thánh Tông đặc biệt coi trọng việc đắp đập, tu sửa đê điều đề phòng bão lụt. Trong bộ Luật Hồng Đứccó hai điều quy định khá tỉ mỉ về vấn đề này: “Việc sửa đê những sông lớn bắt đầu từ ngày mồng 10 tháng giêng, người xã nào ở trong đường đê phải đến nhận phần đắp đê, hạn trong hai tháng đến ngày mồng 10 tháng 3 thì làm xong. Những đường đê mới đắp hạn trong 3 tháng phải đắp xong. Quan lộ phải năng đến xem xét, quan coi đê phải đốc thúc hàng ngày. Nếu không cố gắng làm để quá hạn mà không xong thì quan lộ bị phạt, quan giám bị hiếm. Quân lính và dân binh không theo thời hạn đến làm và không chăm chỉ sửa đê, để quá hạn không xong thì bị trượng hoặc biếm”.

Vua Lê Thánh Tông trong ý thức và hành động của mình luôn lấy dân làm gốc, coi trọng sức dân. Ông chăm lo rất chu đáo đến ự ấm no cho dân. Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất là bằng cách cải cách pháp luật, bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất, là cái quyền gốc cho việc thực hiện các quyền tiếp theo đảm bảo quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc cho người nông dân.

Trong bộ Luật Hồng Đứcđã có những điều luật quy định việc trừng phạt những hành vi vi phạm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và định đoạt ruộng đất của người nông dân. Bộ luật đã liệt kê những tội trạng đáng bị trừng phạt như: Tranh giành đất đai trái với chúc thư, nhận bừa ruộng đất của người khác, hà hiếp, bức hại để mua ruộng đất của người khác, tá điền cấy nhờ ruộng nhà kẻ khác mà trở mặt nói là của mình, xâm lấn bờ cõi ruộng đất, nhổ bỏ giới mốc, chặt cây trong khu mộ địa của người khác, cấy trộm vào phần đất, phần mộ của người khác, chôn cất trộm vào ruộng của người khác, ruộng đất đang tranh chấp mà đánh người để gặt lấy lúa má, cấy rẽ ruộng công hay tư, không báo cho chủ mà tự tiện đến gặt. Bảo vệ người dân, Bộ luật cũng đồng thời định ra khung hình phạt thích đáng đối với kẻ giàu như: “Các nhà quyền quý chiếm đoạt ruộng đất ao đầm của nhân dân, từ một mẫu trở lên thì xử tội phạt, từ năm mẫu trở lên thì xử tội biếm; quan tâm trở xuống thì xử tăng thêm hai bậc và phải bồi thường như luật định”.

Bộ Luật Hồng Đứccòn có cả những điều quy định nhằm bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất cho trẻ em và người già như: “Chồng chết con còn nhỏ, vợ tái giá mà bán điền sản của con, cha mẹ còn sống mà bán trộm điền sản thì con trai bị đánh 60 trượng, người trong họ tự tiện bán ruộng của đứa cháu mồ côi đều bị xử phạt”.

Quốc Triều Hình Luậtlà bộ luật có những thành tựu to lớn, có những nét riêng biệt, thể hiện độc đáo bản sắc dân tộc và tính độc lập của một quốc gia có chủ quyền. Đây là bộ luật đã khẳng định được giá trị và vị thế của mình trong lịch sử hệ thống pháp luật của dân tộc bởi những giá trị tiến bộ của nó vượt trước thời đại, và mang tính nhân văn sâu sắc của người Việt. Những giá trị trong Lê triều hình luật thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, bao trùm lên tất cả các lĩnh vực kinh tế và xã hội. Sự ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo được in đậm trong nhiều quy phạm pháp luật đã được ghi nhận trong Quốc Triều Hình Luật, không chỉ dưới khía cạnh như gia đình và xã hội, mà nó còn được trải rộng ra dưới khía cạnh kinh tế bằng những chính sách về nông nghiệp, quân điền, an dân và chính sách ổn định sản xuất nông nghiệp. Việc nghiên cứu những ảnh hưởng của Nho giáo trong Luật Hồng Đứckhông những giúp ta lý giải một cách sâu sắc nhiều lĩnh vực pháp luật, chế định pháp luật, quy phạm pháp luật mà còn góp phần quan trọng để bổ sung những cơ sở pháp luật và thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay. Trong thiên “Hình luật chí” của bộ sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, sử gia lỗi lạc Phan Huy Chú đã dành một vị trí xứng đáng cho việc giới thiệu bộ Quốc triều hình luật, ông nhận xét: “Hình của nhà Lý thì lỗi ở khoan rộng, hình của nhà Trần thì lỗi ở nghiêm khắc”, khi nói về pháp luật thời Lê, ông đã phải khen ngợi “thật là cái mẫu mực để trị nước, cái khuôn phép để buộc dân”.

Quan điểm “dân là gốc nước”, được thể hiện trong Luật Hồng Đức, cho thấy truyền thống này được Lê Thánh Tông kế thừa, thể chế hóa bảo vệ quyền lợi của người dân, Lê Thánh Tông đưa vào luật những hình phạt đối với những kẻ được giao trọng trách quản lý xã hội nhưng sách nhiễu dân, hành dân. Trong Điều 370 và 371 chỉ rõ: “Những nhà quyền thế chiếm đoạt nhà cửa ruộng đất, ao đầm của lương dân từ 1 mẫu trở lên thì xử phạt, 5 mẫu trở lên thì xử biếm, quan tam phẩm trở xuống thì xử thêm 2 bực tội, bồi thường như luật định. Đã tâu rồi thì xử khác”, và “Trong hạt mình cai quản có cọp, sói, heo rừng… làm hại dân, phá hoại hoa màu mà không lập mưu bắt chúng thì xử tội biếm. Ai giỏi bắt được thì thưởng theo việc nặng, nhẹ”. Luật pháp của triều đình đòi hỏi người ra làm quan phải công tâm, khách quan trong xử phạt, không o ép, bức cung người khác. Tại điều 683 qui định: “Quan xử án, trong bản bán, chỗ luận tội phải dẫn đủ chánh văn và cách thức của luật định. Làm trái thì xử phạt. Xét xử theo riêng ý mình thì bị biếm một tư. Nếu có thêm bớt thì xử phạt theo luật thêm bớt tội cho người”.

Luật Hồng Đức, với ý thức bảo dân và an dân, định ra nhiều điều khoản cụ thể chống hàng gian, hàng giả, đảm bảo tôn ti, trật tự, với những quy định như: “Trong các chợ ở kinh thành hay thôn quê mà người bán không theo đúng cân thước, thăng đấu nhà nước đưa ra, mà cải đổi riêng để mua bán thì xử biếm hoặc đồ”, hoặc: “Ai làm những vật dụng giả (hàng giả) và vải lụa ngắn, khổ hẹp đem bán thì bị đánh 50 roi, biếm một tư, hàng hóa bị sung công. Quan giám sát và người đứng đầu cố ý dung túng thợ làm giả thì phạt tiền biếm hay bãi chức. Tiền phạt thưởng cho kẻ tố cáo. Căn cứ việc nặng nhẹ mà phạt, nếu là việc công thì thêm một bực tội”.

Bên cạnh đó, bộ luật cũng đề cập chủ trương khoan dung, nhưng cương quyết xử phạt những kẻ phản bội, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc như: “Ai phạm tội chưa bị phát hiện mà tự thú trước thì được tha tội. Ai phạm tội thập ác và giết người thì không áp dụng luật này”, hay: “Làm việc công có sai lầm, biết mà tự thú thì tha tội. Chuyện liên can đến nhiều người, nhưng một người biết ra thú tội thì mọi người (khác) đều được giảm tội một bực”.

Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu tiếp thu, vận dụng, kế thừa những tư tưởng tiến bộ của Quốc triều hình luật vào thực tiễn công tác xây dựng và hoàn thiện bộ luật hình sự, bộ luật dân sự, luật phòng chống tham nhũng, luật phòng chống lãng phí… Giáo sư Phan Huy Lê (Hội Sử học Việt Nam ) cho rằng: Quốc triều hình luật là một nguồn tài nguyên vô cùng rộng lớn, là mảnh đất màu mỡ cho các nhà sử học, luật học… tiếp tục khai thác, nghiên cứu. Ông viết: “Chế độ quân chủ chuyên chế quan liêu có mặt hạn chế của nó và sau này đã gây ra nhiều hậu quả nặng nề cho đất nước, nhưng điều cần nhấn mạnh là trong hoàn cảnh thế kỷ XV, nhất là dưới triều Lê Thánh Tông, vẫn còn phát huy vai trò tích cực của nó. Với ý thức dân tộc và tinh thần tự cường cao, Lê Thánh Tông nêu cao Nho giáo, tiếp nhận mô hình chế độ quân chủ Nho giáo, nhưng luôn luôn xuất phát từ những đặc điểm của đất nước và lợi ích dân tộc”. Giáo sư Oliver Oldman, chủ nhiệm khoa Luật Đông Á, thuộc trường Luật Đại học Harward, đã đánh giá: “Bộ luật thời Lê của nước Việt Nam truyền thống là một công trình bất hủ vùng đại Đông Á truyền thống. Chúng ta thấy triều Lê vào những thế kỷ đặc sắc của mình đã nỗ lực xây dựng một quốc gia vững mạnh như thế nào để bảo vệ những quyền hợp pháp của con người thông qua một hệ thống pháp luật tiến bộ, trong đó, có nhiều điều đã có thể so sánh ngang về mặt chức năng với những quan điểm pháp luật phương Tây cận hiện đại”.

Đối với quá trình đổi mới đất nước việc bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống, trong đó có truyền thống thượng tôn pháp luật, lấy dân làm gốc, xuất phát từ ngàn năm dựng nước và giữ nước của cha ông, luôn luôn là điều cần thiết và bổ ích. Nhà nước Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam không tự nhiên sinh ra mà có sự kế thừa giá trị truyền thống của dân tộc. Nhà nước ấy là sáng tạo của Đảng Cộng sản trong suốt quá trình đổi mới, vượt qua tình thế khủng hoảng, rút ra những bài học lớn từ sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội hành chính quan liêu, để từng bước tìm kiếm và thể nghiệm con đường phát triển phù hợp với xu thế chung của thế giới và đặc thù của dân tộc.

Xét từ quy luật kế thừa tư tưởng nhà nước pháp quyền của chúng ta, trong quá trình hình thành, có mối liên hệ lịch sử với những yếu tố pháp trị trong tư tưởng phương Đông cổ đại, những bài học trị nước bằng pháp luật kết hợp với văn hóa khoan dung, tinh thần nhân văn của người Việt Nam, trong đó, không thể không nói đến Luật Hồng Đức; những tư tưởng pháp quyền phương tây cận đại, nhất là tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, quan điểm chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin như tư tưởng định hướng cho chúng ta hôm nay.

Để đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, “tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí”, đồng thời “thực hiện đồng bộ các chính sách và luật pháp của Nhà nước nhằm phát huy dân chủ” (dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và chế độ tự quản của cộng đồng dân cư) và “giữ vững kỷ cương trong xã hội”. Như vậy, điểm chung của truyền thống yêu nước Việt Nam , được thể hiện trong lịch sử cũng như hiện tại là đảm bảo ổn định xã hội vì lợi ích của đất nước, của nhân dân.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.