Bếp với người Việt
Theo một số nhà khoa học từ khi con người tìm thấy lửa, đầu tiên là đốt thành đống ở ngoài trời để nướng thức ăn. Sau đó, lửa được chuyển vào trong hang hoặc chỗ khuất, rồi con người nghĩ ra thứ che chắn cho lửa khỏi bị gió tạt và giữ được lâu hơn.Có lẽ đấy chính là sự hình thành cái bếp sau này khi con người biết làm nhà ở. Cái bếp gắn với con người trong đời sống và trong mọi sinh hoạt rất mật thiết. Bếp không chỉ là chỗ dùng để đun, nấu … mà còn là nơi sưởi ấm cho cả nhà vào những ngày giá lạnh. Mùa đông đi cấy, đi cày về, bỏ nông cụ ở ngoài là người nông dân vào ngay bếp, đốt lửa lên và hơ tay, thậm chí hơ khô cả quần áo. Rồi uống bát nước nóng, sưởi ấm cơ thể đang rét run … và chỉ một lúc sau cái rét bị xua đi, người trở lại trạng thái bình thường, không còn chịu cái rét ngoài trời nữa. Những ngày lạnh quá không đi làm được, cả nhà ngồi quây quần bên bếp lửa xì xụp nấu ăn, chuyện trò ấm cúng. Có khi, nhiều đứa trẻ lăn cả ra đống rạ cạnh bếp, ngủ một giấc ngon lành.
Bếp còn là nơi hàng xóm đến chơi, cùng nhai ngô, bóc lạc, ăn khoai, sắn luộc… uống bát nước chè xanh và “kể chuyện tâm tình bên nhau”. Nhiều đôi nam nữ đang tìm hiểu nhau, hay những cặp vợ chồng mới cưới cũng rủ nhau ngồi bên bếp lửa than hồng tâm sự, chuyện trò.
Bếp còn là nơi lưu giữ văn hoá đời này qua đời khác. Trong bếp, hầu như ở gia đình nào cũng bắc thêm chiếc kiềng gang lớn, hoặc đắp cái bếp lò để đun được nồi to, phòng lúc trong nhà có cỗ bàn, giỗ, tết hay hiếu hỉ.
Vào mùa lạnh, ở nông thôn người ta luôn giữ cho bếp lúc nào cũng có lửa bằng cách chỉ cần châm mồi rơm hoặc rạ và đổ chấu lên cho bén rồi lấp tro, chẹm chặt thế là lửa cứ cháy âm ỉ. Khi cần, lấy thanh nứa khô gạt tro ra, thổi mấy cái là lửa bén vào. Thông thường, ở bếp nhà nào cũng buộc gác bằng tre để gác những vật dụng như rổ, rá, hành tỏi, hạt giống…. giữ khỏi mối mọt; và khói bếp vàng ươm làm đẹp, tăng độ bền của đồ gia dụng.
Cái bếp không chỉ dừng lại ở những sinh hoạt thông thường mà còn gắn với con người một số tín ngưỡng dân gian, như câu chuyện về “Táo Quân”. Theo quan niệm của người Việt, vị vua bếp Táo Quân rất quan trọng, vì ngài là người cai quản việc bếp núc. Hàng năm cứ đến ngày 23 tháng chạp âm lịch là ông Táo về chầu trời để bẩm báo với Ngọc Hoàng mọi việc trong năm nên dân ta nhà nào cũng làm lễ cúng tiễn ông đi.
Bếp gắn với con người từ rất xa xưa, và gắn với nhiều ca dao, tục ngữ của người Việt là lẽ đương nhiên.
“ Vắng đàn ông quạnh nhà
Vắng đàn bà quạnh bếp”
Điều đó nói lên vai trò của từng người con trong gia đình. Nếu như trong gia đình, vắng người phụ nữ thì cái bếp trở nên hiu quạnh, lạnh lẽo không giống như khi có bàn tay chăm sóc của họ. Bếp cũng là nơi người đàn bà thể hiện tình cảm và sự quan tâm chăm sóc của mình với người thân trong nhà qua săn sóc nấu các món ăn.
Bếp là nơi chứng kiến cuộc sống giàu sang sung túc hay đói khổ bần hàn của người nông dân. Cả khi được mùa hay những lúc rau cháo qua ngày của một gia đình.
“ Giàu ba bữa, khó cũng đỏ lửa ba lần”. Nghĩa là nhà giàu ngày ăn ba bữa thì kẻ khó là rau, là cháo cũng đỏ lửa ba lần, chẳng kém cạnh gì… “ Đàn ông trông nhà, đàn bà trông bếp”. Nhìn vào cách bài trí trong nhà mà khách có thể đánh giá người đàn ông ra sao. Còn nhìn vào cách sắp đặt trong bếp có ngăn nắp gọn gàng hay tuềnh toàng để thấy được người đàn bà ấy khéo hay vụng…
Và có khi, để chê một anh chồng hèn kém người ta cũng có câu ví von:
“ Chồng người buôn ngược bán xuôi
Chồng em ngồi bếp để b… chấm gio”.
Ngày nay, do cuộc sống hiện đại, ở nông thôn nhiều nhà đã dùng bếp than tổ ong, bếp điện hay bếp ga để đun nấu, vừa tiện, vừa nhanh nên không còn cái bếp củi than hồng ấm cúng nữa. Và văn hoá bếp cũng có phần khác đi nhiều. Tuy nhiên, với không khí vui vẻ đầm ấm trong gian bếp bé nhỏ và hình ảnh làn khói bếp bay lên từ nóc bếp nhà ai đó dưới bóng lam chiều thì đã đi vào thơ ca, và sống trong ký ức của bất cứ ai đã một thời đi qua.








