Bệnh viện Việt Đức: Tuồn rác thải y tế độc hại ra ngoài
Cách đây đúng 1 năm, Báo KH&ĐS đã có cảnh báo về việc có thể rác thải bệnh viện bị thất thoát từ chính các bệnh viện, nhưng lời cảnh báo đã bị rơi vào quên lãng...
Hàng trăm kg chai lọ dính máu
Ngày 10/8/2007, Cục Cảnh sát môi trường (C36) đã bắt quả tang 2 chiếc xe ô tô (BKS 30H-7939 và 29V-8340) vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ bệnh viện Việt Đức về các địa điểm tập kết khác nhau (xe 30H-7939 chuyên các bao đựng chất thải xuống sân khu tập thể ngõ 715 đường Hồng Hà, Chương Dương, Hoàn Kiếm, HN; xe 29V-8340 chở chất thải về nhà bà Quý tại xóm Lẻ, thôn Triều Khúc, Tân Triều, Thanh Trì, HN). Các cán bộ C36 đã kiểm tra, lập biên bản, chụp ảnh, cân đong tại ngõ 715 đường Hồng Hà gồm có 16 bao tải dứa, bên trong chứa các vỏ lọ thủy tinh mẫu mã các loại đều đã qua sử dụng, nhiều chiếc còn dính máu chứa máu hưa được khử trùng và tiệt khuẩn, tổng số 279kg!. Còn tại nhà bà Quý có 55 bao tải dứa, tổng cộng 660kg, bên trong đựng các vỏ lọ thuốc bằng nhựa và 2 túi nilon cân nặng 16kg đựng bơm kim tiêm (có nhiều chiếc bơm kim tiêm và dây nhựa truyền dịch còn chứa dung dịch màu nâu đỏ, nghi là máu). Tất cả đều đã qua sử dụng và chưa được khử trùng, tiệt khuẩn!
Theo lời khai của chủ hàng 2 xe ô tô này (bà Phạm Thị Vân và Triệu Thị Quý), nguồn gốc những rác thải y tế nguy hại trên là mua của khoa Chống nhiễm khuẩn - bệnh viện Việt Đức với giá 6000đ/kg. Những rác thải vẫn còn dính máu đó được đưa về nghiền nhỏ, sau đó bán lại cho người khác để tái chế đồ dùng nhựa. Bà Quý cho biết đã mua bán với nhân viên khoa Chống nhiễm khuẩn bệnh viện Việt Đức từ năm 2002, ước tính từ đó đến nay vào khoảng 200 - 300 tấn!
Bệnh viện có chỉ đạo bán ra ngoài
Tin từ C36 cho biết, lãnh đạo bệnh viện Việt Đức và lãnh đạo Khoa Chống nhiễm khuẩn đã thừa nhận việc làm sai trong khâu quản lý chất thải y tế nguy hại của Khoa Chống nghiễm khuẩn. Điều này dẫn đến việc một số chất thải y tế nguy hại trên sau khi được thu gom, tập kết về nơi cuối cùng của bệnh viện đã không được chuyển đến nơi xử lý theo đúng quy định. Bệnh viện Việt Đức cũng thừa nhận đã có chỉ đạo cho Công đoàn bán ra ngoài. Theo lái xe và chủ hàng của 2 xe tải chở rác thải nói trên thì đây đều là chất thải y tế được Bệnh viện Việt Đức bán lại cho họ với giá 6000đ/1kg nhựa, 300đ/kg chai, lọ thủy tinh to, 1500đ/kg chai, lọ thủy tinh nhỏ. Số hàng trên được tái chế và bán lại cho người khác.
Ông Lê Văn Bình - trưởng Khoa Chống nhiễm khuẩn thừa nhận, bệnh viện Việt Đức đã giao cho khoa thu gom, phân loại tất cả các loại rác thải trong bệnh viện. Việc xử lý rác thải y tế đã được bệnh viện ký hợp đồng với Xí nghiệp xử lý chất thải công nghiệp – y tế thu gom, vận chuyển và xử lý. Ông Bình cho rằng mình không biết việc rác thải được bán ra ngoài cho tư nhân. Ông chỉ thừa nhận, có 2 khâu chưa chặt chẽ trong công tác quản lý rác thải y tế của khoa. Một là ký giấy bán phế liệu rác y tế cho phép tái sử dụng mà không kiểm tra cụ thể từ khâu cân đến khi đưa lên xe ra ngoài bệnh viện. Hai là do trình độ có hạn, tinh thần trách nhiệm trong công việc được giao quá kém..., nhân viên được giao quản lý kho rác thải y tế đã tự động và lén lút tự ý chọn lọc các loại không được phép sử dụng để bán.
Có hay không có sự lãnh đạo của bệnh viện Việt Đức trong vụ việc này? Được biết, C36 vẫn tiếp tục điều tra tại bệnh viện (KH&ĐS sẽ tiếp tục trở lại vấn đề này). Hiện tại, Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quyết định xử phạt hành chính đối với bệnh viện Việt Đức với mức 20.000.000 đồng.
Những mầm bệnh nguy hiểmTrao đổi với một số cán bộ, bác sĩ của bệnh viện Việt Đức, tất cả đều cho rằng họ rất sốc và bất bình với những việc làm thiếu trách nhiệm của một số cá nhân trong việc bán rác thải y tế độc hại ra ngoài. Là những người làm việc trong môi trường bệnh viện, họ hiểu hơn ai hết những tác hại khôn lường nếu các mầm bệnh thất thoát ra ngoài. “Hầu như tuần nào, bệnh viện của phải mổ cho một ca HIV dương tính! Việc bán rác thải đó có khác gì người nghiện nhiễm HIV vứt bơm kim tiêm của mình sau khi sử dụng?” - một bác sĩ bức xúc. |
Nguồn: Báo KH&ĐS, số 79 (2006), 31/8/2007, tr 15








