Bảo vệ môi trường biển vì sự phát triển bền vững ở nước ta hiện nay
Ô nhiễm môi trường biển phần lớn do chính con người gây ra. Đồng thời, chỉ có con người mới có khả năng khắc phục và ngăn chặn được nó. Làm thế nào để vừa khai thác tài nguyên, vừa bảo vệ biển vì sự phát triển bền vững. Đó chính là câu hỏi đặt ra với nhân loại hôm nay.
Biển – tài nguyên đặc biệt quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho mỗi quốc gia, dân tộc. Ở Việt Nam hiện nay có khoảng 3.260 km chiều dài bờ biển với một nguồn tài nguyên biển vô cùng phong phú. Bên cạnh đó còn có khoảng 3000 hòn đảo lớn nhỏ, 44 vịnh, 1120 rạn san hô, 12 đầm phá, 252.500 ha rừng ngập mặn, thảm cỏ biển phân bố dọc từ Bắc vào Nam tạo nên một quần thể thiên nhiên trù phú và tươi đẹp. Biển Việt Nam chính là nơi quần tụ của nhiều loài hải sản quý, khoáng sản, kim loại, dầu mỏ… ẩn chứa nhiều tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế biển. Tài nguyên biển hết sức đa dạng và phong phú, cung cấp cho con người thực phẩm, các sản phẩm công nghiệp, thuốc chữa bệnh. Biển còn là những con đường giao thông vận tải quan trọng nối liền các vùng, các miền và các nước với nhau, là nơi vui chơi giải trí và du lịch của con người. Tuy nhiên, những năm gần đây, do việc phát triển kinh tế cùng với sự buông lỏng quản lý đã dẫn đến việc khai thác tài nguyên biển ngày càng nhiều, nhưng không có quy hoạch, kế hoạch. Hiện nay, biển đang phải hứng chịu hậu quả nặng nề của nạn ô nhiễm. Tất cả các chất thải từ lục địa theo sông đổ ra như các chất thải sinh hoạt, phân bón nông nghiệp, thuốc trừ sâu, chất thải công nghiệp, chất thải phóng xạ và nhiều chất ô nhiễm khác, các chất thải này chưa được xử lý hoặc xử lý không triệt để vẫn từng ngày đổ ra biển đã gây ra ô nhiễm biển nặng nề.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, 80% tài nguyên biển như hệ sinh thái, thảm cỏ biển, rạn san hô đang nằm trong tình trạng rủi ro và 50% được cảnh báo là rủi ro cao, khó khắc phục. Và tình trạng này cũng đang diễn ra tương tự với hệ sinh thái thảm cỏ biển, các thảm cỏ biển ở vùng cửa sông, vùng triều và ven một số đảo bị khai thác bừa bãi làm thức ăn cho gia súc hoặc làm phân bón. Tác động mạnh mẽ nhất đến môi trường biển là việc khai thác dầu khí trên biển. Hiện tượng rò rỉ dầu từ giàn khoan, các phương tiện vận chuyển và sự cố tràn dầu có xu hướng gia tăng cùng với sản lượng khai thác dầu khí trên biển. Vết dầu loang trên nước ngăn cản quá trình hòa tan oxy từ không khí. Cặn dầu lắng xuống đáy làm ô nhiễm trầm tích đáy biển. Nồng độ dầu cao trong nước có tác động xấu đến hoạt động của các loài sinh vật biển. Con người đã và đang thải ra biển rất nhiều chất thải độc hại mà ngay trước mắt họ không nhìn thấy hậu quả của sự nguy hiểm đó. Hoạt động vận tải trên biển là một trong các nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm biển. Các tai nạn đắm tàu thuyền đưa vào biển nhiều hàng hóa, phương tiện và hóa chất độc hại. Các khu vực biển gần với đường giao thông trên biển hoặc các cảng là nơi nước biển có nguy cơ dễ bị ô nhiễm. Bên cạnh các nguồn ô nhiễm nhân tạo trên, biển có thể bị ô nhiễm bởi các quá trình tự nhiên như núi lửa phun, tai biến bão lụt, sự cố rò rỉ dầu tự nhiên… Hơn nữa, công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý các vi phạm môi trường còn bị buông lỏng, chưa có những chế tài đủ mạnh để ngăn chặn có hiệu quả các hành vi vi phạm ô nhiễm môi trường sông, biển. Hiệu quả ngăn ngừa và ứng cứu trên thực tế rất thấp, môi trường biển vẫn đang hàng ngày hàng giờ bị nhiễm bẩn. Sự tích tụ đó sẽ để lại những hậu quả nghiêm trọng không phải chỉ ngay trước mắt, mà trong lâu dài.
Theo thống kê chưa đầy đủ ở các địa phương vùng ven biển, tổng lượng thu gom đã lên tới 2.071,3 tấn, trong đó đã xử lý được 1.904,8 tấn. Hàng năm, các chất thải rắn đổ ra biển gồm đất, cát, rác thải, phế liệu xây dựng, chất phóng xạ. Một số chất thải loại này sẽ lắng lại tại vùng biển ven bờ. Một số khác bị phân hủy và lan truyền trong toàn khối nước biển. Vì vậy, những hệ sinh thái ven biển đang bị biến đổi, xuống cấp một cách nhanh chóng. Việc chặt phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản, đã dẫn đến nguy cơ rừng ngập mặn bị suy thoái, phá vỡ nơi cư trú của các loài chim, hải sản, gây xói mòn đất. Rừng bị phá làm suy thoái đa dạng sinh học, sự mất đi của một quần thể sinh vật sẽ làm rối loạn chức năng của hệ sinh thái, ảnh hưởng đến sự sống của động vật, làm mất khả năng lưu giữ nước, gây úng lụt, lũ quét, ảnh hưởng đến cuộc sống của con người. Việc đánh bắt bằng lưới quét mắt nhỏ, bằng chất nổ, thuốc độc đã tiêu diệt hàng loạt các loài sinh vật biển, mà theo đánh giá phải mất nhiều năm mới khôi phục lại được. Thậm chí việc quai đê lấn biển ở một số vùng ven bờ, cửa sông đã làm thay đổi dòng chảy, có nguy cơ xói mòn lở bờ ở các vùng khác.
Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định kinh tế biển là mũi nhọn, nhằm đầu tư cho cơ sở vật chất, nhân lực, công nghệ cho sản xuầt, kinh doanh, dịch vụ. Nhưng chỉ có thể phát triển bền vững trên cơ sở quản lý giữ gìn, bảo vệ tốt môi trường biển. Khai thác, sử dụng tài nguyên biển phải đi đôi với bảo vệ, tái tạo tài nguyên biển. Muốn phát triển bền vững, ngoài việc phát triển kinh tế thì việc giữ gìn bảo vệ môi trường sống là một vấn đề hết sức quan trọng và cần có những biện pháp hữu hiệu nhất nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do ô nhiễm gây ra, nhất là đối với môi trường biển. Với quan điểm chỉ đạo của Đảng ta là đến năm 2020 nước ta “phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn”, Ban Tư tưởng – văn hóa Trung ương, Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (Dành cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), Lưu hành nội bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2007, tr 91… và bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh quốc gia và kinh tế biển. Để bảo vệ nguồn tài nguyên biển và hạn chế đến mức thấp nhất ô nhiễm môi trường biển nhằm bảo đảm sự phát triển kinh tế trong sự đa dạng sinh thái biển, cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, giáo dục nâng cao ý thức, nhận thức về vị trí, vai trò của biển cho cộng đồng. Công tác này đặc biệt được coi trọng, bởi lẽ hiện nay không ít người chưa có ý thức bảo vệ môi trường biển, nhất là cư dân ven biển, họ coi biển là bãi chứa rác khổng lồ. Cần đẩy mạnh và có những biện pháp giáo dục, tuyên truyền sâu rộng, có hệ thống trong nhân dân, nhằm nâng cao hiệu quả và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của người dân và cả các cấp lãnh đạ về vị trí, vai trò cảu biển đối với cuộc sống con người và cần phải có ý thức giữ gìn, bảo vệ biển vì cuộc sống của chính bản thân mình. Song song với việc giáo dục, tuyền truyền cũng cần phải có hình thức xử phạt nghiêm minh, đúng pháp luật với các trường hợp vi phạm.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường biển và cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư phát triển. Trước nguy cơ môi trường biển bị ô nhiễm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của con người, do vậy cần thiết phải có những quy định chặt chẽ, thống nhất nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong quá trình tác động vào môi trường biển.
Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng, là cơ sở, công cụ pháp lý để Nhà nước điều tiết, quản lý các hoạt động bảo vệ môi trường vì lợi ích chung của cộng đồng xã hội. Pháp luật được thể hiện dưới hình thức văn bản có hiệu lực khác nhau. Hệ thống luật pháp nước ta chưa đầy đủ các tiêu chuẩn về môi trường biển, làm cơ sơ hành lang pháp lý về quy định và xét xử các vi phạm môi trường biển. Bởi vậy, Nhà nước và các cơ quan chức năng cần nhanh chóng đưa các nội dung luật bảo vệ môi trường biển thành những nội dung dưới luật cụ thể, phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi. Ngày 27 – 12 – 1993, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ tư đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường, tạo cơ sở pháp lý trong công tác bảo vệ môi trường. Ngày 6 – 3 – 2009 Chính hủ đã ban hành Nghị định 25/2009/NĐ-CP, đây là một văn bản pháp lý quan trọng quy định thể chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Nghị định cũng quy định việc cấp phép khi khai thác sử dụng tài nguyên biển đảo và có những quy định cụ thể khác nhằm ngăn ngừa, kiểm soát ô nhiễm biển đảo…. Song thực tế hiện nay nhận thức hiểu biết của người dân về những hoạt động có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng như chặt phá rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn, xả rác, nước thải và chất thải bừa bãi… còn rất hạn chế. Gần đây những vụ vi phạm về ô nhiễm môi trường sông, biển ngày một gia tăng, điển hình như vụ vị phạm môi trường nghiêm trọng của công ty bột ngọt Vêdan (Biên Hòa – Đồng Nai) đã gây xôn xao dư luận xã hội. Sau nhiều tháng bí mật theo dõi, cuối tháng 8 – 2008, Cục Cảnh sát môi trường đã phát hiện một hệ thống vận hành nước thải từ nhà máy chưa qua hệ thống xử lý, trong đó có hàng trăm đường ống xả chất thải được bí mật chôn sâu dưới lòng đất và thông ngầm ra sông Thị Vải một cách tinh vi. Qua phân tích mẫu nước thải đã xác định được nồng độ của hầu hết chất gây ô nhiễm đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ vài lần đến vài chục lần. Bởi vậy, xây dựng hệ thống dịch vụ pháp lý đủ mạnh để giúp cho mọi người dân hiểu, nắm vững pháp luật về bảo vệ môi trường biển sống và hành động theo pháp luật. Ngoài ra, cần ban hành cơ chế, chính sách đảm bảo cho sự phát triển nhanh, bền vững các lĩnh vực liên quan đến biển, nhất là bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ những vùng biển đảo có giá trị chiến lược về kinh tế và quốc phòng, an ninh.
Cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và các chính sách cần tiến hành củng cố và hoàn thiện hệ thống tổ chức từ ngành đến địa phương. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa ban hành pháp luật, giáo dục pháp luật và thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường biển ở nước ta.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các vấn đề liên quan đến biển. Bảo vệ môi trường biển là nhiệm vụ của tất cả mọi người, song để giúp cho người dân có nhận thức và hành động đúng đắn trong việc khai thác, bảo vệ, tái tạo các nguồn tài nguyên biển, cần phải có một đội ngũ các nhà quản lý có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Lực lượng xã hội này chính là những người trực tiếp hoạch định, quản lý, tổ chức, hướng dẫn việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương cụ thể. Cần tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường biển, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, sớm xây dựng, ban hành quy định giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường biển.
Thứ tư,tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đẩy mạnh việc điều tra cơ bản và phát triển khoa học – công nghệ biển. Nếu coi việc đầu tư cho đào tạo, huấn luyện nguồn nhân lực là điều kiện đủ thì việc đầu tư cơ sở vật chất, đẩy mạnh việc điều tra cơ bản và phát triển khoa học – công nghệ biển chính là điều kiện cần. Thực tế hiện nay, khi những vấn đề liên quan đến ô nhiễm xảy ra như: sự cố tràn dầu, đắm tàu thuyền, đổ rác thải, chất thải ra sông biển chung ta chưa đầy đủ khả năng khắc phục, do thiếu cả nhân lực và vật lực nên các biện pháp đưa ra luôn mang tính đối phó và thụ động. Chưa có khả năng phát hiện sớm để có biện pháp giải quyết, nhiều vụ việc xảy ra gây hậu quả rất lớn tới môi trường biển mới phát hiện ra. Do vậy, cần pahri đảm bảo đủ nguồn lực đầu tư cho việc bảo vệ, xử lý ô nhiễm môi trường biển. Muốn làm được điều này, cần huy động mọi nguồn lực trong toàn xã hội, có biện pháp, chính sách cụ thể khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho việc bảo vệ môi trường biển. Cùng với việc đầu tư về tài chính, cần đẩy mạnh tăng cường trang thiết bị cho các cơ quan quản lý, bảo vệ môi trường biển.
Về điều tra cơ bản và phát triển khoa học – công nghệ biển phải được coi là giải pháp mang tính đột phá, nhằm phát huy tiềm năng khoa học cho bảo vệ môi trường biển. Tăng cường nghiên cứu khoa học và công nghệ môi trường biển, phát triển hệ thống dự báo, cảnh báo phòng, chống thiệt hại, giảm thiểu rủi ro cho các hoạt động trên biển, đồng thời xây dựng các công trình điều tra, nghiên cứu tổng hợp biển và đào tạo cán bộ chuyên gia về môi trường biển là giải pháp hỗ trợ bảo vệ môi trưởng biển đạt đượ chiệu quả ngày càng cao hơn.
Thứ năm,đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực biển đứng ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển. Trên cơ sở các kế hoạch, quy hoạch vùng biển và ven biển, cần đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực biển, bao gồm các cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ quản lý, các chuyên gia và đội ngũ lao động được đào tạo chuyên sâu về các nghề, thuộc các nhóm đối tượng khác nhau. Xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo gắn với cơ chế cử tuyển nhằm khuyến khích các cán bộ khoa học, quản lý công tác ở các đảo và vùng ven biển.
Thứ sáu, tăng cường hợp tác của các cấp, các ngành và hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường biển. Bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng không phải là việc làm của riêng ai mà là nhiệm vụ chung của toàn nhân loại. Bởi vậy, sự hợp tác của các cấp, các ngành và hợp tác quốc tế, khu vực trong lĩnh vực này là luôn cần thiết. Nhà nước cần triển khai rộng rãi, chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường biển, nhằm huy động các nguồn lực trong và ngoài nước với một cơ chế ưu đãi đặc biệt cho các dự án tiếp nhận, thu gom, xử lý rác thải, dầu và ứng cứu tràn dầu. Ban hành quy định thu gom bắt buộc đối với các tàu biển ra vào các cảng biển Việt Nam . Định mức lộ phí thu gom thỏa đáng, giúp các doanh nghiệp có điều kiện hoàn vốn đầu tư. Bên cạnh đó cần nghiên cứu chế độ đãi ngộ đặc biệt cho các đối tượng làm việc trong các đơn vị thu gom, xử lý, tái chế các chất thải, ứng cứu tràn dầu. Tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế cho hoạt động nghiên cứu, giám sát, quản lý, phát triển công nghệ tiên tiến như tin học, vật lý học, viễn thám để kiểm soát về mức độ ô nhiễm biển nhằm đưa ra những giải pháp xử lý kịp thời, đồng thời ký kết các công ước quốc tế, nghị định thư về bảo vệ môi trường nói chung, môi trường biển nói riêng.
Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn và cấp bách của mỗi quốc gia và của cả cộng đồng quốc tế. Vì ô nhiễm môi trường có ảnh hưởng lâu dài và sâu sắc đến đời sống, sản xuất, đến sự phát triển và tồn tại của từng quốc gia, dân tộc và cả loài người. Trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, vấn đề ô nhiễm biển luôn tiềm ẩn và không tránh khỏi. Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, chúng ta cần coi trọng công tác bảo vệ môi trường biển, vì đầu tư cho môi trường biển chính là đầu tư cho tương lai.








