Bàn về sử dụng huyết thanh trong thức ăn lợn con
Từ nhiều nguồn tài liệu và phân tích các kết quả nghiên cứu đã công bố thấy rằng, huyết thanh động vật có tác động mạnh ở những nơi mà lợn sau cai sữa kém ăn và phát triển kém.
Trước khi đi tìm nguồn thay thế hãy tìm xem cơ chế tác động của huyết thanh động vật như thế nào? Ngày nay, có nhiều luận thuyết về cơ chế tác động này. Một số người cho rằng, huyết thanh động vật chế từ máu, cho nên khi trộn vào thức ăn gia súc, thức ăn trở nên ngon miệng hơn. Người khác lại cho rằng, trong huyết thanh động vật có thành phần kích thích sinh trưởng chưa biết. Hơn thế nữa, trên thị trường còn có quan niệm cho rằng, tác động tăng năng suất vật nuôi của huyết thanh liên quan đến hàm lượng protein trong huyết thanh. Thế nhưng trong thực tế nhiều mẫu phân tích sản phẩm huyết thanh hàm lượng protein trong các mẫu phân tích không đồng đều. Nhiều nghiên cứu cũng đã bác bỏ ý tưởng cho rằng mức protein cao nhất thiết sẽ chuyển đổi thành kết quả tốt nhất. Một số mẫu huyết thanh theo phân tích của chúng tôi thấy hàm lượng protein biến động từ 70 - 85%. (bảng 1).
Bảng 1: Hàm lượng Protein thô không dự báo nồng độ IgG
Loại huyết thanh | Hàm lượng Protein (%) | Nồng độ IgG (%) |
1 | 82 | 15 |
2 | 80 | 8 |
3 | 70 | 14 |
Nồng độ globulin miễn dịch thường có ký hiệu IgG, tương ứng từ 7 đến 15%. Không thấy có mối tương quan giữa các biến số này.
Phần lớn các nhà dinh dưỡng cho rằng, huyết thanh động vật phát huy tác động thông qua nồng độ lgG cao của nó. Thực vậy, một số báo cáo khoa học đã chỉ ra rằng, thành phần phân tử trọng cao (lgG) tạo ra hiệu quả y hệt như huyết tương, còn huyết tương chỉ là chất trơ.
Trong thí nghiệm của chúng tôi cũng nhận thấy những nguồn huyết thanh nồng độ lgG cao cho kết quả tốt hơn những nguồn huyết thanh có hàm lượng protein tương đương, nhưng nồng độ lgG thấp hơn (bảng 2).
Bảng 2. Tăng năng suất tùy theo nồng độ lgG sau cai sữa lúc 21 ngày tuổi
15% IgG | 8% IgG | |
Khối lượng tăng (g/ngày) | ||
Tuần 1 | 180 | 162 |
Tuần 2+3 | 476 | 418 |
Hệ số chuyển hoá thức ăn | ||
Tuần 1 | 1,15 | 1,23 |
Tuần 2+3 | 1,5 | 1,24 |
Như vậy, mọi ý đồ thay thế huyết thanh đông vật dùng trong thức ăn lợn con phải hướng về các nguồn globulin miễn dịch tương đương. Điều đáng tiếc globulin miễn dịch, 1 cơ chất sinh học chỉ riêng loài động vật mới sản sinh ra được. Thế thì khi tìm kiếm các nguồn tương đương chúng ta không thể bỏ qua sữa và trứng gà. Có 2 loại sản phẩm sữa giàu globulin miễn dịch. Thứ nhất là whey cao đạm rất giàu lgM. Loại thức 2 điều chế từ sữa đầu cũng giàu lgM. Nhưng whey cao đạm trong thực tế sản xuất cho kết quả không ổn định, còn sản phẩm tách chiết từ sữa đầu nếu tính theo nồng độ lgG còn đắt hơn huyết thanh. Trứng gà cũng có lg g , trứng của gà mái siêu miễn dịch có một loạt globulin miễn dịch có khả năng tăng cường hoặc điều hòa sức đề kháng của lợn con. Tuy vậy, loại sản phẩm này cũng cho kết quả không ổn định. Hiệu lực sử dụng sản phẩm này không chỉ phụ thuộc vào nồng độ lg g hiện diện mà còn phụ thuộc ở chủng mầm bệnh đặc thù dùng để tạo miễn dịch cho gà mái đẻ.
![]() |
| Mức tăng trưởng 14 ngày đầu sau cai sữa. Cai sữa lúc 10 ngày tuổi, ăn thức ăn có thành phần khác nhau |
Một sự phối hợp các chiến lược là con đường có triển vọng để tìm kiếm loại thay thế thích hợp, khả dĩ hạ được giá thành sản phẩm.
Trong công trình của chúng tôi, chúng tôi đã thẩm tra các nguồn globulin miễn dịch an toàn trong các điều kiện khác nhau rồi sau đó phối hợp với một số chất bổ sung công nghệ. Sản phẩm cuối cùng là một hỗn hợp các protein động (trứng, sữa) thực vật với các chất xơ chức năng. Một loạt các thí nghiệm kiểm tra và các thử nghiệm trong sản xuất cho biết, sản phẩm của chúng tôi có thể thay thế huyết thanh động vật trong khẩu phần thức ăn đơn chiếc hay hỗn hợp, trong các điều kiện thể chất lợn tốt cũng như xấu (bảng 3).
Bảng 3: So sánh huyết thanh với sản phẩm thay thế
Tăng trọng (g/ngày) | |||
Không bổ sung | Bổ sung huyết thanh | Bổ sung sản phẩm hỗn hợp (yếu tố P) | |
Thí nghiệm 1 | |||
Pha 1 (7 ngày) | 137 | 208 | 195 |
Pha 2 (14 ngày) | 477 | 459 | 510 |
Thí nghiệm 2 | |||
Pha 1 (7 ngày) | 97 | 102 | 121 |
Pha 2 (14 ngày) | 454 | 449 | 452 |
Thí nghiệm 3 | |||
Pha 1 (7 ngày) | 28 | 70 | 93 |
Pha 2 (14 ngày) | 353 | 478 | 437 |
Thực tế, thông qua việc thiết kế lại công thức là con đường thay thế huyết thanh trong khẩu phần khởi động dễ dùng nhất (nhưng không phải lúc nào cũng an toàn nhất). Ví dụ tài liệu nghiên cứu đã chứng minh, khi sử dụng huyết thanh động vật, yêu cầu lactose của lợn con giảm 50%. Ngược lại khi giảm huyết thanh thì theo chiều hướng lại tăng hàm lượng lactose trong khẩu phần. Cũng có thể thu được kết quả giống như huyết thanh khi trong khẩu phần thức ăn lợn có tỉ lệ bột cá cao (tuy vậy, bột cá cũng là nguyên liệu đắt tiền) hoặc sử dụng một số chất bổ sung như bột vị ngọt, probiotic, hoặc chất xơ chức năng. Có một điều thú vị là thành tích nổi trội cũng có thể biểu lộ bằng cách dùng khô đậu tương chất lượng cao hoặc đậu tương ép đùn nguyên dầu, cả 2 loại này đều ít chất kháng dinh dưỡng. (*T.S Ioannis Mavromichalis. Giám đốc TT nghiên cứu của Công ty Provimi ở MadridT).









