Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 13/12/2010 20:38 (GMT+7)

Bà con nông dân cần gì ở Kiến trúc sư ?

Đến khi trưởng thành, tuổi trung niên rồi cả đến tuổi lão niên, ông say mê bươn trải với kiến trúc đô thị, với kiến trúc hiện đại, kiến trúc quốc tế thời hội nhập vì sự nghiệp nghề nghiệp, vì tên tuổi và cũng vì cả miếng cơm manh áo của riêng mình. Nông thôn, nơi chôn nhau cắt rốn chẳng của riêng ông, nơi tạo ra hạt gạo nuôi sống muôn người ấy, vậy mà những người xa quê có lúc nào để tâm đến nơi đó! Công bằng mà nói, thế hệ KTS trước ông, người ta gọi đó là thế hệ KTS thứ nhất cũng đã có người nghĩ về nông thôn, nghĩ về cội nguồn, muốn phục vụ, muốn làm một cái gì đó cho nông thôn. Với giới văn nghệ sỹ: Nhà thơ, nhà văn, hoạ sỹ, nhạc sỹ... trong đó có cả KTS, những người xa quê, những bà con Việt  kiều, hình ảnh nông thôn xưa luôn trong tâm khảm họ: mái nhà tranh, chum nước, gáo dừa, bẹ cau ôm thân cây hứng nước mưa , hoa cau, hoa gạo, hoa bưởi, cây đa, bến nước con đò, cây cầu tre vắt vẻo, giếng nước, ao làng,  cổng làng, luỹ tre xanh, cánh diều, con trâu,cánh cò, con đường đất quanh co, gió mát trăng thanh, trăng dòm cửa sổ, chõng tre, ống thuốc lào luôn là nguồn cảm hứng sáng tác thi ca hội hoạ của họ, luôn là nỗi nhớ khắc khoải của bao người con tha hương... những cái  đó một khi biến đi, ai làm mất cái đó, vô tình hay hữu  ý mà quên nó, hình như là mắc vào một trọng tội!. Nếu ai quên cái đó “sẽ không lớn nổi thành người”...

Vẫn biết vậy, nhưng cuộc sống của chúng ta ở nông thôn cũng như ở đô thị luôn luôn biến động, mức sống và dân trí ngày một cao, vì thế có nhiều thứ tuy rất nên thơ nhưng ta không thể giữ được. Luỹ tre xanh bao quanh cùng với cái cổng làng có chức năng bảo vệ xóm làng nay không còn chức năng bảo vệ nữa. Cái cổng làng quá nhỏ, xe ô tô to nhỏ đều không chui vào được, nếu muốn lưu giữ nó vì nó quá cổ kính quá đẹp thì chỉ còn mỗi một cách là phải uốn con đường đi lệch sang bên cạnh hoặc phá bỏ nó đi để xây một cái cổng khác to rộng hơn, nhưng chức năng của cái cổng mới này cũng không có ngoài việc làm đẹp cho bộ mặt làng xóm, nếu như nó được thiết kế tốt. Rõ ràng là cây cầu bê tông dài rộng hiệu quả hơn chiếc cầu tre vắt vẻo hoặc những con đò oan nghiệt đã cướp đi sinh mạng của bao người... Lại liên hệ đến các du khách đi qua một khu phố cổ được khoanh vùng rộng lớn, họ thích thú nhìn những ngôi nhà vô cùng cổ kính, chụp ảnh, quay video lia lịa. Họ có biết đâu trong ngôi nhà cổ đó là cả mấy chục hộ sinh sống, chỉ một cái hố xí có đến cả trăm người sử dụng chung. Nhớ lại thời bao cấp, vị  KTS nọ, sống ở Thủ đô trong một ngôi biệt thự với đầy đủ tiện nghi, cụ rất thích thú với những ngôi nhà tranh coi đó là bản sắc kiến trúc dân tộc, nhưng nếu mời cụ vào ngủ trong ngôi nhà đó trên chiếc chõng tre, sử dụng cái quạt mo cau để chống nóng và đuổi muỗi, mời cụ uống nước múc từ chum hứng nước mưa... thì chắc là cụ không trụ nổi qua một đêm.

Quay trở lại cụ KTS tác giả của bài viết đã nêu ở trên, xin tạm xếp cụ là lớp KTS thế hệ thứ hai, thật lòng là cụ cũng muốn làm một cái gì đó. Ví như đã muốn tham gia dự thi kiến trúc mẫu nhà nông thôn, nhưng cuối cùng cụ cũng không vẽ được gì, mặc dù cụ là con người rất tài ba, nét vẽ của cụ bay bổng có truyền thống. Vậy tại sao rất muốn phục vụ, rất muốn làm một cái gì đó để đóng góp cho nơi nuôi dưỡng mình mà vẫn không sao làm được ?

Quê tôi, miền Kinh Bắc, về mặt kiến trúc cứ tạm gọi là có thể thay mặt cho vùng quê đồng bằng sông Hồng, vậy những gì mà tôi sắp viết dưới đây là chỉ giới hạn trong vùng đó mà thôi, vì đất nước ta có nhiều vùng, nhiều miền có những đặc thù khác nhau.

Xã tôi,  nổi tiếng cả nước về tinh thần vượt khó, hiếu học, hàng năm đều đạt kết quả cao nhất về tỷ lệ trúng tuyển đại học và cao đẳng. nhất huyện, nhất tỉnh, nhất nước. Mới đây thôi, Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã về xã tôi để biểu dương khuyến khích về tinh thần này. Có thể nói người dân quê tôi có 2 mục tiêu lớn: tằn tiện chắt chiu có tiền để nuôi con ăn học và làm nhà, đủ tiền thì làm ngay một lúc nếu không đủ tiền thì làm nhiều đợt, nhiều năm. Hồi xưa xã tôi đi đầu trong phong trào ngói hoá. 100% nhà ngói, không còn một cái nhà tranh nào. Nhưng cuộc sống luôn luôn biến động. Đất chật, người ngày một đông ra. Một vài sào ruộng thậm chí một vài thước ruộng, không thể nuôi thân.Trai gái trong làng phải thoát ly rất nhiều. Sau khi học xong đại học, cao đẳng họ đi làm cán bộ nhà nước, làm ở công ty, nhà máy. Nhiều chị em đi làm thợ may, thêu, đan ,dệt. Nhiều thanh niên lên làm đồ gỗ Đông Kỵ, có người tổ chức đội thợ xây dựng, thợ trang trí nội thất, họ đi khắp nơi. Một số thanh niên khác làm nghề kinh doanh cá con, họ vào  nam ra bắc, lên mạn ngược, một chuyến đi của họ có khi kéo dài nửa năm trời. Người làm ruộng chuyên nghiệp chủ yếu là ông bà già và một số nữ trung niên. Đến mùa cấy, mùa gặt, mọi người lại lục tục kéo nhau về giúp đỡ gia đình.

Đường làng ngõ xóm bây giờ đã đàng hoàng, tất cả đều được đổ bêtông, hai chiếc xe ô tô có thể tránh nhau được, đó là đường xã, đường xuyên thôn, liên thôn. Một số ngõ lớn ô tô con cũng có thể vào được. Như vậy, vấn đề giao thông là tạm ổn. Hệ thống cột  dây điện bám theo đường cũng tạm ổn. Giếng làng giếng xóm không còn, thay bằng hệ thống giếng khoan của từng nhà kết hợp với bể nước mưa, như vậy vấn đề cấp nước cũng tạm ổn. Vậy hiện nay nông dân đang cần gì?

Trước hết nói về những ngôi nhà tầng. Quê tôi không có những ngôi nhà mái củ hành củ tỏi, không có nhà mái Mansard, nhưng cũng đã có một vài nhà nhiều tầng cao ngất nghểu. Kể từ ngày xây cho đến nay dễ có đến 15 năm, từ tầng hai trở lên chủ nhân không bao giờ sử dụng đến nó. Hồi đó mấy ông chủ có con đi lao động hợp tác ở nước ngoài gửi tiền về nên muốn phô trương cho bàn dân thiên hạ biết cái hơn người của mình. Cũng thời gian đó kiểu trang trí phú nông mầu sắc hoa hoè hoa sói lan tràn từ đình chùa đến nhà ở. Ngôi chùa có trên 400 năm tuổi, ấy thế mà khi sửa chữa họ đề ngay trước cổng chùa con số 1988! thật hết cả tôn nghiêm cổ kính. Bây giờ trình độ dân trí ngày một cao. Mọi sự tu bổ đền chùa, đình, nhà thờ họ... đều tôn trọng nguyên bản, chỉ thay thế những thứ đã quá hư hỏng không còn phục chế được nữa. Cuộc sống của người dân được nâng cao, nhiều nhà đã nối mạng. Nhiều nhà có điều hoà, bình nóng lạnh. Nhớ lại cách đây ít năm có ông việt kiều Mỹ về thăm quê cả 10 ngày liền, cứ buổi sáng thì xe ô tô về làng buổi tối lại về Hà Nội, cứ thế 10 ngày liền, bởi phương tiện vệ sinh ở quê không đáp ứng. Sau đó ông cho tiền, người nhà đầu tư khu vệ sinh theo kiểu thành phố, thế là những lần về thăm sau này không còn cảnh đi lại phiền toái nữa. Hiện nay việc xây nhà tầng đang là một nhu cầu khách quan của quê tôi. Bởi nhiều nguyên nhân: những ngôi nhà ngói cũ đã hết niên hạn sử dụng, các thứ cột kèo hoành dui bằng gỗ bị mối mọt nhiều và gỗ tốt hiện nay rất khó kiếm. Nhà mái ngói kể cả có trần cũng rất nóng, chưa kể phần dột nát. Nhưng điều quan trọng hơn là cơ cấu người ở trong gia đình đã có sự thay đổi lớn. Nhiều nhà có con thoát ly đã lập gia đình, muốn về quê thăm bố mẹ, họ phải có phòng riêng.

Tính độc lập trong sinh hoạt của thành viên trong gia đình đòi hỏi ngày một cao.Nếu không xây nhà tầng sẽ không đủ diện tích để ở. Hơn nữa ở nông thôn nhà cửa bây giờ cũng san sát, nên ở tầng hai sẽ thoáng  mát hơn. Vậy xây nhà tầng, người nông dân có cần đến bàn tay củaKTS không?. Tôi có cảm giác hình như họ không cần. Kỳ về quê lần này tôi đi khảo sát trên 10 gia đình đang xây nhà hoặc vừa mới xây xong, hoặc đã ở được 1-2 năm, vì đều là anh em, cháu, người ruộtthịt trong nhà cả, nên tôi hỏi kỹ từ chân tơ kẽ tóc xem họ xây nhà như thế nào? ai vẽ kiểu, ai xây, nguồn tiền lấy từ đâu, phép tắc như thế nào, công xá ra sao...Ngôi nhà đầu tiên tôi vào là của chúem họ, nhìn bề ngoài thấy cũng bắt mắt. Hỏi: ai vẽ kiểu cho chú? Cháu của chú là KTS, sao chú không nhờ nó.  Chủ nhân cẩn thận mở cánh tủ chè ra đưa cho tôi một bìa tờ lịch đã nhầu nát: Em thấykiểu này hay hay nên bảo cậu cai cứ dựa vào tờ lịch này mà làm! Đi khắp các tầng chỉ thấy phòng là phòng, không thấy bếp và khu vệ sinh đâu. Tôi ngạc nhiên: nhà chú không có bếp xí tắm à?. Chủ nhânthản nhiên trả lời: quê mình chưa có thói quen đó bác ạ. Em làm ở dưới nhà phụ. Nhỡ đêm hôm mưa gió? – Đã có nhà cầu. Có một số nhà đất chật hơn, không có nhà cầu mà làm ngay nhà phụ ở bên cạnh, nhàphụ chỉ có một tầng. Số phòng của nhà là bao nhiêu là tuỳ theo cơ cấu của từng gia đình. Đương nhiên tại tầng 1 nơi trang trọng nhất là bàn thờ. Nhà tầng ở quê tôi là vậy đó. Có một điều tôi quan sátđược là các chủ nhân rất chịu khó học tập các nhà khác đã xây để rút kinh nghiệm, nên càng những ngôi nhà xây sau càng đẹp hơn, thật chẳng khác biệt thự ở thành phố. Các chủ nhân của ngôi nhà đã có ýthức rất rõ về sự hài hoà với những ngôi nhà xung quanh, không ai còn có tư tưởng chơi trội, chơi khác đời. Tuy có tốn kém hơn bằng đồng tiền chắt chiu của mình, nhưng nếu cần vát chỗ này, lồi chỗkia họ cũng quyết tâm theo, để làm cho ngôi nhà của mình mềm mại, thánh thoát, để sao cho ngôi nhà vừa ý mình, ưng ý mọi người.

Trước khi khảo sát các nhà, tôi có ý nghĩ: Nhà nước, Tỉnh, Hội Kiến trúc sư nên có những bản thiết kế mầu, một số mẫu kèm theo tính toán nguyên vật liệu rồi gửi về xã phát không cho bà con nông dân để ai muốn xây nhà thì áp dụng. Nhưng sau tôi nghĩ lại có lẽ cũng không cần. Từ kinh nghiệm của người đi trước, người nông dân rất biết tính toán xây ngôi nhà cần mấy vạn viên gạch, mấy tấn xi, mấy tạ thép, bao nhiêu sỏi bao nhiêu cát, vốn viếng cần bao nhiêu. Nguồn tự có bao nhiêu, nguồn vay mượn bao nhiêu... 

Vậy nông dân cần gì ở KTS? Xin được hiểu KTS đại diện luôn cho cả nhà quy hoạch, cấp thoát nước, xử lý rác và bảo vệ môi trường, nói rộng ra là toàn ngành xây dựng.

Có 4 vấn đề lớn mà người nông dân đang mong chờ ngành xây dựng hỗ trợ:

1-  Vấn đề quy hoạch: Trước tiên đó là quy hoạch sản xuất, bao gồm quy hoạch đồng ruộng, trang trại, nuôi trồng, làng nghề tiểu thủ công, vùng đất dự kiến làm khu công nghiệp nếu có,  chuyển đổi cơ cấu ngành nghề nếu có. Trên cơ sở quy hoạch sản xuất khẳng định quy hoạch điểm dân cư thôn xóm. Nếu như không có thay đổi gì thì đây cũng là dịp để khẳng định tính ổn định của các công trình hiện hữu để bà con yên tâm sản xuất. Việc xác định quy hoạch sản xuất không phải từ ý muốn chủ quan của người lãnh đạo hoặc của các nhà quy hoạch mà phải xuất phát từ yêu cầu của phát triển, yêu cầu của bà con nông dân, hoặc phải có sự thoả thuận của bà con trong trường hợp có yếu tố đầu tư từ bên ngoài vào.

2-  Nâng cấp công trình kỹ thuật hạ tầng: Công trình kỹ thuật hạ tầng là tạm ổn trong điều kiện hiện nay, tuy vậy đang còn rất chắp vá chưa đủ, cần phải được nâng cấp và mở rộng. Vấn đề này cần sự hỗ trợ vốn của trung ương và địa phương, có sự đóng góp vốn và công sức của người dân.

3-  Xử lý rác thải: Vấn đề rác thải ở nông thôn đang là vấn đề nan giải, không khác gì ở đô thị, nó đã ở mức báo động. Trước đây khi đất vườn còn rộng, người nông dân đi chợ đựng mọi thứ mua bán trên đôi quang gánh, trong rổ rá, thúng mẹt, mọi thứ đều gói bằng lá cây cho nên rác thải vứt ra vườn là tự tiêu. cộng rau, bẹ chuối đều tận dụng làm thức ăn cho gà cho lợn. Nay thói quen đó không còn, mọi vận chuyển bằng xe máy xe đạp, mọi thứ đều cho vào túi nilông. Rác nông thôn không còn khác rác đô thị nữa. Bãi rác xã tôi nằm ở bên cạnh con đường ranh giới giữa 2 huyện, thuộc địa phận xã tôi. Đó là một khu đầm trũng, nay rác đã đổ ngang với mặt đường. Phóng xe máy ra tham quan bãi rác, mặc dù đã đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm, đeo kính râm mắt to nhưng tôi không dám dừng lại bởi mùi hôi thối tanh tưởi, hàng trăm hàng ngàn con nhặng bu bám theo người theo xe máy. Cố phóng xe máy cho rõ nhanh để thoát khỏi đám ruồi nhặng bu bám. Đây là đất của xã tôi, rác của xã tôi nên không có ai phản đối, song mọi người rất lo lắng rồi đây rác thải sẽ ngấm vào nước ngầm mà cả xã thì đang dùng nước giếng khoan. Những cơn gió đầu mùa đã đưa mùi hôi thối vào xóm làng, cùng đám ruồi nhặng sẽ du nhập vào mâm cơm của người dân, nhất là trên mâm lại có món mắm tôm. Thực sự là một xã, liên xã không có đủ sức để xây dựng một nhà máy xử lý rác. Đây là vấn đề của huyện của tỉnh.

4-  Xử lý nước thải: Đây cũng là vấn đề nóng, trước kia người nông dân sử dụng hố xí 2 ngăn, tận dụng phân, nước tiểu để tăng gia, nhưng giờ đây không phải ai cũng làm vậy. Các ao chuôm đã bị lấp đi gần hết để xây nhà. Vườn tược bị thu hep, nước tự ngấm không được bao nhiêu. Nước mưa thì có thể thoát ra đồng, nhưng nước thải sinh hoạt thì thoát đâu? Xử lý bằng cách nào?

Ngoài bốn vấn đề nêu trên, còn một số vấn đề khác nữa như nghĩa trang, tu bổ các công trình kiến trúc cổ, đình chùa, miếu mạo, xác định những gì nên giữ, những gì có thể bỏ được.

Có rất nhiều việc để làm, để nghiên cứu, để đóng góp cống hiến cho quê hương của mình. Vấn đề còn lại là tấm lòng của mỗi người.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.