Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 16/12/2010 22:40 (GMT+7)

Áp lực môi trường từ hoạt động các khu công nghiệp

Tuy nhiên, với đặc thù là nơi tập trung các cơ sở công nghiệp đa ngành, đa lĩnh vực, các KCN có nguy cơ phát thải một lượng lớn các chất gây ô nhiễm ra môi trường nếu công tác bảo vệ môi trường (BVMT) không được quán triệt và thực thi nghiêm túc. Thực tế ở nước ta cho thấy, sự phát triển của các KCN đã tạo sức ép không nhỏ đối với môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ, cuộc sống của cộng đồng xung quanh và tác động xấu lên hệ sinh thái nông nghiệp và thủy sinh.

Ô nhiễm môi trường KCN: Mối đe dọa đối với toàn xã hội

Nói đến ô nhiễm môi trường từ các KCN hiện nay, vấn đề được đề cập đến nhiều nhất là nước thải sản xuất không qua xử lý xả thẳng ra môi trường. Tỷ lệ các KCN có trạm xử lý nước tập trung ở nước ta chỉ đạt khoảng 43%, trong đó rất nhiều các KCN đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hạng mục này hoặc không vận hành hệ thống này. Nhiều KCN có hệ thống xử lý nước thải nhưng tỷ lệ đấu nối của các doanh nghiệp trong KCN còn thấp. Theo đánh giá sơ bộ, chỉ 50% các hệ thống xử lý nước thải tập trung hiện nay là đạt tiêu chuẩn.

Hàng ngày, có đến 70% trong số hơn 1 triệu m 3nước thải từ các KCN xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận không qua xử lý đã gây ô nhiễm môi trường nước mặt. Nước thải có đặc trưng là thành phần rất đa dạng, chủ yếu là các chất lơ lửng, chất hữu cơ, dầu mỡ và còn chứa một số kim loại nặng nguy hại đe doạ chất lượng môi trường. Kết quả phân tích mẫu nước thải từ các KCN cho thấy, các thông số ô nhiễm đều cao, đặc biệt với các KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung thì các thông số này đều vượt QCVN, có nơi đến hàng chục hoặc hàng trăm lần.

Thực tế theo dõi chất lượng nước mặt tại những vùng chịu tác động của nguồn nước thải từ các KCN cho thấy, tại hầu hết các khu vực quan trắc chất lượng môi trường đã suy thoái đáng kể. Đặc biệt tại 3 lưu vực sông lớn là Đồng Nai, Cầu và Nhuệ - Đáy, những khu vực chịu tác động của nước thải KCN có chất lượng nước sông bị suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu ô nhiễm như BOD 5, COD, NH +4, tổng N, tổng P đều cao hơn QCVN nhiều lần. Bên cạnh đó, khí thải và chất thải rắn từ các KCN cũng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đáng kể, tuy nhiên tình hình chưa nghiêm trọng như đối với vấn đề ô nhiễm nước.

Ô nhiễm không khí ở các KCN thường mang tính cục bộ trong nội vi vùng sản xuất do hầu hết các KCN đã được quy hoạch tách biệt khu dân cư. Mối đe doạ ô nhiễm không khí tập trung nhiều ở các KCN cũ, do các nhà máy trong KCN sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa đầu tư hệ thống xử lý khí thải, chủ yếu là ô nhiễm bụi và một số điểm có biểu hiện ô nhiễm CO, SO 2­­-. Chưa phát hiện thấy ô nhiễm tiếng ồn tại các điểm quan trắc gần các KCN.

Khối lượng chất thải rắn từ các KCN cũng có nhiều hướng gia tăng, tập trung nhiều nhất tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, lượng chất thải rắn phát sinh chiếm tỷ trọng lên tới gần 3.000 tấn/ngày. Trong đó, thành phần chất thải rắn nguy hại chiếm khoảng 20%, tỷ lệ chất thải rắn có thể tái chế hoặc tái sử dụng khá cao nhưng chưa được tận dụng do thực trạng thu gom, vận chuyển và tái sử dụng chất thải rắn tại các KCN còn nhiều bất cập.

Những hệ luỵ tất yếu

Nước thải sản xuất không qua xử lý xả thải trực tiếp vào môi trường đã làm tác động đến các động vật thuỷ sinh, gây thiệt hại đáng kể tới hoạt động sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản của các khu vực lân cận.

Tại KCN Phố Nối A, Hưng yên, đến năm 2009 đã có 77% diện tích được lấp đầy và đi vào hoạt động nhưng việc xử lý nước thải vẫn bị xem nhẹ. Công suất của hệ thống xử lý nước thải tập trung (xây dựng từ năm 2008) không đáp ứng được nhu cầu thực tế, một số doanh nghiệp trong KCN chưa đấu nối hệ thống nước thải với nhà máy xử lý mà nước thải trực tiếp ra môi trường, gây ô nhiễm nặng các dòng sông, trong đó chịu ảnh hưởng nhiều nhất là sông Bàn và sông Bắc Hưng Hải. Theo đánh giá, nguồn nước trên hai dòng sông này và hệ thống kênh mương, sông hồ trong khu vực không đạt tiêu chuẩn B1 (QCVN 08:2008), không còn khả năng tưới tiêu cho nông nghiệp. Hàng chục kênh mương đã biến thành dòng nước chết, bốc mùi hôi tanh khó chịu. Nước chảy đến đâu, cá tôm chết nổi đến đó, cây trồng cũng héo rũ. Trên địa bàn Văn Lâm, Mỹ Hào do hệ thống thuỷ lợi bị ô nhiễm không thể tưới tiêu phục vụ sản xuất, hàng chục ha đất canh tác phải bỏ hoang.

Ở khu vực miền Trung, trong hai năm 2006 và năm 2007, KCN Điện Nam-Điện Ngọc cũng nổi lên như một điểm nóng về ô nhiễm môi trường. Trong giai đoạn này, KCN vẫn chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung. Toàn bộ nước thải của KCN thải trực tiếp ra môi trường đã khiến người dân xung quanh phải gánh chịu. Con mương dẫn nước thải của KCN chảy tự do ra sông Ngân Hà, làm dòng sông trở nên đen kịt. Các loài thuỷ sản (cá, tôm…) không thể tồn tại. Trạm bơm Tứ Câu gần như ngừng hoạt động vì nguồn nước bị ô nhiễm không thể tưới tiêu cho gần 200 ha ruộng của Điện Ngọc 1 và Điện Ngọc 2. Tuy nhiên, từ năm 2008, với việc đưa vào sử dụng Nhà máy xử lý nước thải giai đoạn I của KCN, vấn đề ô nhiễm môi trường ở khu vực này đã bước đầu được khắc phục.

Mặt khác, ô nhiễm môi trường này đã làm gia tăng gánh nặng bệnh tật, gia tăng tỷ lệ người mắc bệnh đang lao động tại chính KCN và cộng đồng dân cư sống gần đó, từ đó gây ra tổn thất kinh tế cho khám chữa bệnh và các thiệt hại thu nhập do bị bệnh. Thiệt hại kinh tế trung bình cho mỗi người dân trong một năm ở vùng chịu tác động của các nhà máy (phường Thọ Sơn) cao gấp 3,5 lần so với vùng không chịu tác động (phường Gia Cẩm).

Tuy nhiên, các số liệu điều tra hiện nay còn hạn chế, các nghiên cứu cũng chưa đầy đủ nên chưa thể hiện được các tác hại của ô nhiễm do hoạt động KCN một cách rõ ràng và riêng biệt. Đây là hạn chế lớn cản trở hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường KCN.

Giải pháp đối phó hiệu quả với vấn đề môi trường KCN

Hiện nay, hệ thống quản lý nhà nước đối với các KCN còn nhiều bất cập. Các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực BVMT KCN còn chưa đầy đủ. Quy hoạch phát triển KCN đã có nhưng chưa thống nhất và thiếu khoa học: Quy hoạch tổng thể do Chính phủ duyệt, nhưng việc cấp đất do UBND tỉnh thực hiện, duyệt quy hoạch đất KCN là của Bộ Xây dựng và cấp phép đầu tư là Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Mặt khác, việc phân cấp trách nhiệm đối với các đơn vị có liên quan trong BVMT KCN chưa rõ ràng, chức năng của các đơn vị tham gia quản lý còn chồng chéo. Nguồn nhân lực cho công tác BVMT KCN còn yếu, chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

Vì vậy, việc giám sát công tác BVMT đối với các KCN phần nào bị buông lỏng. Tình trạng các KCN vi phạm các cam kết BVMT, xả thải các chất ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến. Các công cụ tính phí và xử phạt các đơn vị gây ô nhiễm còn nhẹ, chưa có tính răn đe và ngăn chặn xu hướng tiếp diễn các hành vi huỷ hoại môi trường.

Để khắc phục những bất cập và khó khăn thách thức trên, các giải pháp quản lý và BVMT cần được thực hiện đồng bộ và kiên quyết, đồng thời cần có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý môi trường từ cấp trung ương đến địa phương và sự tham gia đóng góp ý kiến và sự đồng thuận của các KCN và doanh nghiệp trong KCN. Các giải pháp ưu tiên trước mắt gồm:

Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các văn bản chính sách, pháp luật, bao gồm cả việc sửa đổi một số điều của Luật BVMT và các văn bản hướng dẫn, nhất là vấn đề phân cấp quản lý môi trường các KCN theo hướng tổ chức quản lý tập trung và công tác tổ chức thanh tra môi trường liên quan.

Khẩn trương hoàn tất công tác uỷ quyền quản lý môi trường cho BQL các KCN theo quy định; các BQL các KCN cần nhanh chóng thành lập đơn vị chuyên trách về môi trường và tạo điều kiện thuận lợi về tổ chức hay hoạt động;

Thực hiện đồng bộ việc quy hoạch KCN gắn với quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH và BVMT, trước mắt bổ sung việc đánh giá môi trường chiến lược đối với quy hoạch phát triển các KCN;

Tăng cường thực thi pháp luật về BVMT KCN, chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng môi trường KCN, tổ chức công bố thông tin về môi trường KCN theo quy định.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.