Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 05/05/2006 21:57 (GMT+7)

13,34% người Việt Nam sử dụng Internet: Hiệu quả chưa cao là lãng phí

TS Thọ nói: Dù làm trong lĩnh vực ứng dụng máy tính ngay từ những năm 1970 nhưng tôi cũng không ngờ tốc độ phát triển Internet ở Việt Nam lại nhanh đến thế. Chỉ cách đây mấy năm, Bộ Bưu chính viễn thông đưa ra mục tiêu thấp hơn con số 13,34% nhiều mà mọi người vẫn nghĩ là khó.

Bởi vì muốn đạt con số đó phải có nền kinh tế thế nào và số máy tính phải lên tới cả chục triệu. Nên khi nghe công bố khoảng gần 12 triệu người Việt đang dùng Internet, ban đầu tôi chưa thật sự tin. Nhưng cũng phải nói vừa qua Internet ở Việt Nam đã phát triển rất ấn tượng.

1. Chỉ số chủ yếu và thứ yếu

* 13,34% đúng là con số đáng để tuyên truyền. Nhưng theo ông, sự phát triển Internet thời gian qua ở Việt Nam chủ yếu nhờ sự hỗ trợ của Nhà nước hay do người dân tự vận động?

- Ở đây có nhiều yếu tố. Trước hết là chính sách cởi mở. Khi mới cho Internet vào Việt Nam tôi thấy có phương châm “quản đến đâu, mở đến đó”, nhưng bây giờ thì phương châm đã đảo ngược: “quản lý phải theo kịp thực tiễn”. Nhờ đó, Internet mới phát triển nhanh vậy.

Các bộ, ngành cũng có vai trò khi lập dự án đưa Internet xuống tận trường học. Đối với xã hội thì đúng là sự tự thân vận động của người dân vẫn mạnh mẽ nhất và quyết định tất cả. Kinh tế đi lên, người ta có tiền thuê bao, mua máy. Việc hội nhập và cơ hội làm ăn tạo điều kiện cho việc ứng dụng Internet được mở rộng.

* Nhưng còn một vài chỉ số quan trọng hơn lại không được nhắc tới, như chỉ số sẵn sàng cho nền kinh tế điện tử của Việt Nam?

- Thật ra số người sử dụng Internet chỉ là một trong những con số để người ta định ra chỉ số sẵn sàng cho nền kinh tế điện tử (E-Readiness Index). Bản thân tôi cũng không ngạc nhiên về vị trí của Việt Nam ở chỉ số thứ hai này. Theo công bố của các tổ chức quốc tế vẫn xếp hạng các quốc gia theo nhiều tiêu chí liên quan đến công nghệ thông tin (CNTT), viễn thông công bố tháng 4-2005, chỉ số E-Readiness Index của Việt Nam đứng thứ 61/65 quốc gia.

Một chỉ số quan trọng khác là mức độ xây dựng xã hội thông tin của chúng ta cuối năm 2004 cũng đứng thứ 52/53 quốc gia. Nhìn nhận cho đúng thì đến nay, ngoài một số lĩnh vực phát triển rất nhanh như truyền thông, còn một trong những lĩnh vực ta chưa theo kịp là ứng dụng CNTT.

Các nước khác họ ứng dụng nhanh vì có nền sản xuất phát triển. Việt Nam từ nền sản xuất nhỏ đi lên, đặc tính làm ăn nhỏ hằn sâu vào cả suy nghĩ lẫn lề lối làm việc. Mà ứng dụng CNTT gắn liền với cải cách hành chính, nó là cuộc cách mạng về lề lối làm việc. Nên việc xây dựng xã hội điện tử không đơn thuần là tăng số người sử dụng Internet mà vấn đề cơ bản là đấu tranh với suy nghĩ cũ, cách làm cũ.

* Một thống kê cho thấy việc phát triển Internet ở Việt Nam phần không nhỏ là phục vụ... giải trí. 13,34% thật sự chỉ là một con số phụ bởi sử dụng Internet quan trọng nhất là hiệu quả?

- Đúng như vậy. Cũng như anh dùng điện thoại di động, nếu chủ yếu chỉ để tán gẫu với bạn bè thì không có tác dụng dù trong túi anh có 3-4 cái điện thoại đời mới nhất. Nên một mặt ta tăng số người sử dụng, nhưng nếu không quan tâm đến vấn đề hiệu quả thì sử dụng nhiều Internet là lãng phí chứ không tích cực.

* Để tăng hiệu quả sử dụng Internet dứt khoát phải nói đến vai trò của Chính phủ. Nhưng thật không đáng phấn khởi khi chỉ số chính phủ điện tử của Việt Nam năm 2004 tụt 15 bậc (xuống thứ 112) - trùng hợp với nghị quyết 112 về tin học hóa quản lý hành chính nhà nước?

- Chính phủ điện tử là để thuận tiện hóa quan hệ giữa cơ quan nhà nước - công dân, doanh nghiệp; giữa các cơ quan nhà nước với nhau. Nhưng chúng ta đừng mong rằng khi mối quan hệ giữa các chủ thể trên ở phương diện thủ công chưa tốt thì điện tử hóa nó sẽ tốt hơn.

Gặp trực tiếp còn khó nữa là gửi qua mạng. Muốn đưa CNTT vào phải giải quyết tốt các mối quan hệ xã hội trước. Từ những cơ chế rõ ràng mới tháo gỡ được những khúc mắc, tiêu cực. Thời gian qua việc xây dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam chậm bởi cải cách hành chính chậm.

* Bên cạnh lý do như ông nói, một lý do khiến xếp hạng chính phủ điện tử của Việt Nam thấp, người ta giải thích rõ rằng: “Nhiều dự án CNTT ở Việt Nam đã triển khai nhưng khi kiểm tra thì không thấy đâu”.

- Vẫn là hiệu quả đầu tư. Tôi cũng là người triển khai nhiều dự án CNTT. Để một dự án có hiệu quả đòi hỏi phải giải quyết được ba việc. Thứ nhất là có văn bản qui phạm định hướng. Thứ hai mới đến phần cứng rồi mua phần mềm. Nhưng nhiều dự án của chúng ta làm ngược, quá chú trọng vào việc mua máy, mua phần mềm đắt tiền.

Sau đó, do chưa có qui phạm định hướng nên khả năng ứng dụng bị hạn chế, người không có hoặc không làm được việc. Nên triển khai thì rầm rộ, sau lụi dần, thiết bị phải trùm mền hoặc bị đem đi làm việc khác. Bây giờ ngoài công nghiệp phần cứng, phần mềm, thế giới người ta đã nói đến khái niệm “công nghiệp nội dung”. Đảm bảo nội dung rồi mới triển khai sẽ tránh được lãng phí. Chứ cái máy có tốt mấy, web đẹp mấy mà không có nội dung thì cũng vô nghĩa.

2. Quản lý phải theo kịp thực tiễn

* Khi khả năng ứng dụng của các cơ quan nhà nước yếu kém thì sự nhanh nhạy của người dân là một điểm sáng. Phương châm hiện nay là quản lý phải theo kịp thực tế. Nhưng nhìn lại, ông còn thấy văn bản nào vẫn cố cản trở sự phát triển Internet ở Việt Nam không?

- Khi Internet mới vào Việt Nam đã có nhiều luồng ý kiến khác nhau. Và khi thấy có vấn đề tiêu cực, người ta hay nghĩ ngay ra các biện pháp về hành chính, kỹ thuật. Nhà nước đã ban hành một số văn bản thông thoáng. Bộ Văn hóa thông tin đang xây dựng văn bản pháp qui về quản lý Internet nên chưa biết nó sẽ thế nào. Nhưng theo tôi, về cơ bản, chính sách đã thông thoáng. Nhưng phải cân nhắc ban hành văn bản là một chuyện, làm sao để thực hiện đầy đủ văn bản ấy lại là một chuyện.

* Văn bản là một chuyện, thực hiện đúng là một chuyện khác. Khi trên nói phải tăng người sử dụng Internet thì mới đây ở TP.HCM lại có qui hoạch cấm mở thêm đại lý Internet công cộng vì đã có 2.500 đại lý rồi. Chưa nói văn bản trên chống lại chủ trương mà nó còn vi hiến?

- Theo tôi, các nhà quản lý mang tâm lý chung là thấy cái gì khó thì hay nghĩ đến việc cấm cho nhàn. Chưa nói đến căn cứ vào đâu để nói 2.500 đại lý đủ cho hơn 5 triệu dân, mà phải nhận thức muốn giải quyết vấn đề cần có giải pháp đồng bộ.

Với môi trường xã hội ngày càng cởi mở như hiện nay thì giải pháp cấm phải được hạn chế. Bởi cấm là biện pháp hành chính cuối cùng, nó mang tính đơn phương và bản thân nó không giải quyết được triệt để mọi vấn đề, chưa nói đến nó lại trái với các văn bản qui phạm pháp luật cao hơn.

* Biện pháp cấm trong bối cảnh hiện nay vừa cản trở sự phát triển vừa thể hiện sự bất lực, yếu kém của các cơ quan quản lý?

- Như chuyện đăng ký xe máy chẳng hạn, khi mình nghĩ đơn giản cấm là hạn chế được ách tắc, tai nạn nhưng thực tế anh cấm kiểu này, người ta làm kiểu khác. Một số cơ quan không nghĩ ra được chiến lược tổng thể nên dùng biện pháp cấm. Đề xuất ra biện pháp cực đoan chứng tỏ năng lực của anh chưa theo kịp sự phát triển của xã hội. Và cuối cùng những việc cấm đoán đó chỉ để lại dấu ấn trong sự chê trách của người dân. Vấn đề Internet cũng thế thôi.

* Nghĩa là điều quan trọng nhất đối với các cơ quan nhà nước bây giờ là làm sao cho năng lực của mình khá lên chứ không phải suốt ngày soi, họp, thở dài rồi cấm?

- Trong chiến lược phát triển CNTT đến 2010 mà Chính phủ mới phê duyệt, các chỉ tiêu như số người sử dụng Internet hay các chỉ số khác đều gần như tăng gấp đôi hiện nay. Như vậy rõ ràng là không thể hạn chế. Quản lý như vậy sẽ khó khăn nhưng logic đúng là anh phải cố lên.

* Chúng ta nhìn khía cạnh khác của vấn đề. Thời gian qua sự bùng nổ Internet đã đem lại lợi nhuận cho nhiều doanh nghiệp nhưng nó lại bỏ qua lợi ích của các nhà quản lý. Phải cấm để còn có “cửa” khi người dân “chạy”; 20-30 triệu đồng/giấy phép/ đại lý chẳng hạn?

- Thủ tướng Phan Văn Khải đã nói trong buổi gặp gỡ với doanh nghiệp gần đây rằng nhiều cơ quan nhà nước vẫn nghĩ phải làm sao quản lý cho chặt trong khi đúng ra phải tạo điều kiện, phục vụ nhu cầu chính đáng của người dân, doanh nghiệp. Chính những quan điểm không rõ ràng, không phù hợp tạo ra kẽ hở để gây tiêu cực. Nghĩa là phải thay đổi cách nghĩ, cách làm chứ cấm rồi để tiêu cực thì tự nó sẽ hạn chế hiệu quả và vô hiệu hóa dần chính sách.

* Khi Chính phủ đã có chủ trương khuyến khích mà địa phương cứ cấm nghĩa là chống lệnh? Phải chăng sự trả giá của các cơ quan quản lý trước những hành vi sai luật ở ta còn quá ít, cần phải có chế tài mạnh hơn?

- Trong quá trình đi lên bao giờ cũng diễn ra sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Có lúc cái mới cũng bị hạn chế do người ta chưa hiểu nhưng rồi bao giờ cái tiến bộ cũng thắng. Vừa qua, Bộ Tư pháp đã bãi bỏ nhiều văn bản trái luật. Đấy là nét mới đáng mừng của xã hội chúng ta.

Muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền thì tất cả các cơ quan, tổ chức cũng phải tuân theo pháp luật. Mà chúng ta cũng đã có qui định, việc làm sai của các cơ quan gây thiệt hại cho cá nhân, doanh nghiệp thì phải bồi thường. Ta đang trong quá trình thực hiện cái đó. Còn khi đã triệt để rồi, mọi người đều quen rồi, đều kiên quyết bảo vệ cái đúng rồi thì tôi chắc sẽ không ai dám làm sai nữa.

Nguồn: Tuổi Trẻ Chủ nhật 19/3/2006

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Lào Cai: Khởi động dự án Bảo vệ quyền Trẻ em và Phụ nữ, xây dựng cộng đồng bền vững
Ngày 25/5, tại xã Đông Cuông, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng Yên Bái (YENBAI CDSH) tổ chức hội thảo khởi động dự án “Bảo vệ quyền Trẻ em và Phụ nữ, xây dựng cộng đồng bền vững” để giới thiệu các nội dung của Dự án và kế hoạch triển khai năm thứ nhất.
Thanh Hóa: Phản biện đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Viện Nông nghiệp Thanh Hóa
Sáng ngày 22/5/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội thảo khoa học phản biện “Đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đổi mới và tự chủ của Viện Nông nghiệp Thanh Hóa giai đoạn 2026 - 2030”.
Hải Phòng: Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong thực hiện các đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Sáng 21/5, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) thành phố Hải Phòng phối hợp với Hội Nữ trí thức thành phố tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức thành phố Hải Phòng trong thực hiện các đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng”.
GS.TSKH Phan Xuân Dũng: "Hãy trao dũng khí để trí thức dám nghĩ, dám làm và đưa đất nước vươn mình"
Kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18/5) năm nay mang ý nghĩa đặc biệt khi đất nước đang bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển, hướng tới khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên số. Trong dòng chảy ấy, vai trò của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ càng được đặt ở vị trí trung tâm, không chỉ với sứ mệnh nghiên cứu mà còn là lực lượng kiến tạo động lực phát triển mới cho quốc gia.
VICA - Khẳng định vị thế kế toán hành nghề Việt Nam
Trong bức tranh kinh tế năng động của Việt Nam hiện nay, dịch vụ kế toán, kiểm toán đã khẳng định vị thế là một lĩnh vực dịch vụ cao cấp, không thể thiếu đối với sự vận hành minh bạch của thị trường. Đằng sau sự phát triển đó, không thể không nhắc đến vai trò của Chi Hội Kế toán hành nghề Việt Nam (VICA).
Đắk Lắk: Tổng kết và trao giải Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh giai đoạn 2024-2025
Chiều ngày 19/5, tại Khách sạn Công đoàn – phường Tuy Hòa, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội nghị tổng kết và trao giải Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh giai đoạn 2024-2025. Tham dự chương trình có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, các tổ chức thành viên, các tác giả, nhóm tác giả và đông đảo cá nhân có đề tài, giải pháp tham gia hội thi.