Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 27/09/2011 20:04 (GMT+7)

Những dòng sông lấp và huyền sử văn hóa xứ Bắc

Sông Dâu

Theo sách Cổ Châu Phật bản hạnhkể về sự tích Phật Tứ Pháp vùng Dâu thì vào đời Sĩ Nhiếp cai trị (185-225) có trận cuồng phong làm đổ cây dung thụ bên trong chứa con gái nàng Man Nương do sư thầy Khâudala đặt vào. Cây từ núi Mả Mang (núi Phật Tích ở huyện Tiên Du) theo sông Dâu về bến Vọng Giang Lâu thành Luy Lâu thì quẩn lại không trôi đi nữa. Sĩ Nhiếp thấy cây to sai quân kéo vào để làm nhà nhưng không kéo nổi. Khi nàng Man Nương đến chỉ cần tung dải yếm ra là kéo vào được. Đêm đó Sĩ Nhiếp nằm mơ được tiên ông báo cần xẻ gỗ làm tượng Phật thì sẽ cầu mưa được mưa và ngài đã làm theo. Đó là hệ thờ phật Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) đặt ở bốn chùa gần nhau là chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Tương, chùa Dàn.

Truyền thuyết về Ngọc Tiên công chúa do dân địa phương kể lại thì khi quân Ngô đánh phá thành Luy Lâu, công chúa Ngọc Tiên đã lên thuyền chạy thoát, đến khúc sông Trà Lâm thì trầm mình giữ trọn phẩm tiết. Ngày nay khi khai hội Tứ Pháp bao giờ cũng phải chờ kiệu nàng từ đền Lũng sang chùa Dâu thì hội mới bắt đầu.

Rõ ràng sông Dâu là con sông lớn thông thương được đến biển đã giúp Luy Lâu trở thành đô thị cổ phát triển, trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của nước ta suốt nghìn năm Bắc thuộc. Các nhà sư Ấn Độ cũng theo sông đến Dâu truyền đạo, lập ra trung tâm Phật giáo lớn thời đó do có sự ủng hộ của thái thú Sĩ Nhiếp. Thành Luy Lâu xây dựng trên khu đất cao ở phía Bắc sông Dâu, đồng thời có con hào rộng được đào gần hết thành. Trong thành có cả Vọng Giang Lâu kiểm soát bến sông Dâu. Thời Trần có chuyện trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi xây chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp ở Dâu để chuộc tội cho mẹ. Hẳn sông Dâu thời đó vẫn còn rộng lắm. Nhà sử học Trần Quốc Vượng có lẽ cũng căn cứ vào sách Cổ Châu Phật bản hạnhmà khẳng định sông Dâu phát nguyên từ chân núi Phật Tích. Chỉ đến khi sông Đuống trở thành dòng chảy lớn theo kế hoạch trị thủy của hoàng giáp Nguyễn Tư Giản thời Nguyễn, một phụ lưu sông Hồng cắt ngang dòng chảy sông Dâu thì sông Dâu mới hết vai trò thông thương của mình. Đây là nguyên nhân chính làm cho một dòng sông có vai trò lớn với đời sống xã hội trở thành cổ tích và những huyền sử văn hóa. Nguồn nước sông Dâu được phụ cấp bởi dãy núi Tiên Du và vùng đồng bằng phụ cấp không thể sánh được với nguồn nước của sông Hồng. Vào đầu thế kỉ XX, nhiều làng xóm ven sông Đuống đã phải di chuyển vào bên trong đê (như các thôn Đạo Tú, Tú Tháp, Lạc Thổ ở huyện Thuận Thành chẳng hạn) chứng tỏ dòng sông Đuống ngày càng hung hãn. Những trận vỡ đê sông Đuống gây thảm họa lũ lụt còn in đậm dấu ấn trong trí nhớ của người dân Nam Đuống.

Việc khảo sát dòng chảy sông Đuống ở phía bắc sông Đuống, nơi phát nguyên rất khó khắn. Nhưng dòng chảy sông Dâu ở phía nam sông Đuống thì còn rõ dấu vết. Bắt đầu là vị trí xóm Sông của thôn Đình Tổ (huyện Thuận Thành), nơi có đoạn đê vào mùa nước to vẫn xảy ra hiện tượng rò rỉ nước kiểu mạch ngầm mạch sủi do đê đắp trên nền lòng sông Dâu cổ không đủ độ bịt kín các khe cứng đáy sông. Tiếp theo là dãy ao hồ dài nối nhau của thôn Đình Tổ, nơi thái sư Lê Văn Thịnh (thời Lý) từ nơi đày Thao Giang trên đường về quê đã ngã xuống tắt thở khi chỉ còn cách quê nhà hơn mười cây số. Tiếp đó là khu đồng trũng và dãy ao hồ thôn Trà Lâm và thôn Tư Thế, nơi dấu vết phù sa còn rõ như ở ven dòng sông đang chảy năm xưa. Bãi Định (thôn Công Hà) gần cầu Dâu chín nhịp là nơi làm gốm nay thành chợ. Câu ca dao "Công Hà trồng bí trồng bầu" thêm phần khẳng định dòng chảy bồi đắp phù sa cho nơi đây. Qua chùa Dâu sông chảy về phía Cầu Gáy của xã Nguyệt Đức rồi đổ vào sông Cẩm Giàng và ra sông Thái Bình.

Năm 1958 khi nhà nước xây dựng công trình thủy lợi lớn mang tên Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải thì dòng chảy sông Dâu lại được khôi phục một phần, lấy nguồn nước từ kênh dẫn và cống điều tiết từ sông Đuống ở vị trí không phải dòng sông cổ. Nhưng đoạn từ bến Vọng Giang Lâu về Cầu Gáy thì theo dòng chảy cũ và có đào thêm đoạn chảy về phía huyện Văn Lâm, qua thôn Ngọc Tỉnh (xã Song Liễu), nơi Bác Hồ đã về thăm và nói chuyện với dân công làm mương năm 1958. Sông Dâu cổ nay còn dấu vết và chỉ là một dòng chảy nhỏ nhưng vẫn đủ cho ta hình dung vai trò của nó đối với lỵ sở một thời của đất Giao Châu xưa và sự hình thành những ngôi chùa thờ tứ Pháp còn in đậm trong tâm thức dân gian.

Sông Tiêu Tương

Đây là con sông nhỏ chủ yếu đóng vai trò thủy lợi nội vùng của các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong của tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Sông cũng hết vai trò khi dòng chảy sông Ngũ Huyện Khê từ Tam Đảo về qua huyện Yên Phong lượn gần sát dòng chảy sông Tiêu Tương cổ và hệ thống thủy lợi nội vùng hoàn thiện hơn năm 1958. Lượng nước nguồn từ dãy núi Tiên Du và đồng bằng phụ cấp là quá nhỏ so với nguồn nước từ dãy Tam Đảo. Đó chính là nguyên nhân khiến sông Ngũ Huyện Khê đã thôn tính sông Tiêu Tương. Nhưng do vai trò thủy lợi làm phát triển nghề lúa nước của người Việt nơi đây khiến con sông còn sống mãi trong huyền sử văn hóa Kinh Bắc và là nguồn cảm hứng dồi dào cho các thế hệ nghệ sĩ sáng tác ở nhiều loại hình nghệ thuật.

Những ghi chép chính thống về sông Tiêu Tương lại có đánh giá khác nhau về sòng chảy của nó. Sách Đại Nam nhất thống chí (Nxb.KHXH1971) viết: "Sông Tiêu Lương cũ (một tên khác của sông Tiêu Tương) ở địa giới phủ Từ Sơn, phát nguyên từ cái đầm lớn xã Phù Lưu huyện Đông Ngàn, chảy từ phía tây sang đông bắc, qua xã Tam Sơn huyện Yên Phong, chuyển sang địa phận hai huyện Tiên Du và Quế Dương vào sông Thiên Đức". Sách Địa chí Hà Bắc(1980) cõ lẽ có sự nghiên cứu thực địa kỹ còn gọi là sông Tiêu Tương, ở địa giới huyện Tiên Sơn phát nguyên từ hồ Lãng Bạc chảy từ tây sang đông bắc qua xã Tương Giang, Vân Tương, qua các làng quan họ nổi tiếng như Lim, Bưởi, Ó, Se, Bò… rồi chảy vào sông Cầu".

Theo chuyện Trương Chi thì sớm nhất có thể là thời Lý, sông Tiêu Tương còn có dòng chảy để chàng Trương làm nghề chài cá. Cũng vào thời Lý, hương Diên Uẩn còn nhiều rừng. Di tích đền Miễu thôn Dương Lỗi (đền thời Lý triều thành mẫu) còn là khu rừng Mai Lâm (bia Lý gia linh thạch ở chùa Tiêu). Thậm chí năm 1905, rừng Báng ở xã Đình Bảng mới bị khai phá thành ruộng canh tác vì quân Pháp lo sợ nghĩa quân Đề Thám dựa vào đó làm căn cứ đánh thành Hà Nội ( Lịch sử xã Đình Bảng). Những dải rừng kéo dài từ dãy núi Tiên Du này chính là nguồn cấp nước cho sông Tiêu Tương. Nơi chứa nước ban đầu từ các khe rạch chảy về chính là một cái hồ lớn ở xã Phù Lưu, nay là di tích Loa Hồ, hay cũng có thể gọi đây là đoạn phình rộng nhất của sông Tiêu Tương chứ không phải là nơi phát nguyên của dòng sông. Sông nội vùng nên dòng chảy quanh co, mà những ao hồ liền mạch của xã Đình Bảng cũng được người dân xác định là phần còn lại của sông Tiêu Tương. Đình Bảng là đất phát tích nhà Lý, vương triều thịnh trị hơn 200 năm, vậy dinh thừa tướng trong truyện Trương Chi có thể là ở đâu đó trên đất Đình Bảng này. Dòng chảy của sông có thể theo nhận định của sách Địa chí Hà Bắclà phù hợp hơn bởi dấu vết ao hồ, ruộng trũng, và các địa danh còn lại ghi nhận về dòng sông xưa. Để hình dung ra nguồn nước sông nội vùng có thể tham khảo lời kể của người dân, trước khi có hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải thì dân ta chỉ cấy một vụ mùa thuận theo nước mưa, những ruộng ven sông mới cấy được vụ chiêm, khi vào mùa khô sông cạn dòng, người ta phải bới mạch ở giữa dòng sông lấy nước cấy. Hay đứng trên cầu Nét thấy sông Ngũ Huyện Khê có đê cao chống lũ vào mùa mưa nhưng mùa khô bây giờ thấy dòng chảy như cái khe nhỏ, bờ cao mọc đầy cây dại, nếu không cần dòng tiêu mà san đê xuống lòng sông đủ làm thành ruộng cấy lúa. Ngay khu đầm Phù Lưu được coi là phát nguyên dòng sông theo ghi chép thời Nguyễn, ngày nay người ta cũng vừa mới xây con đường bê tộng rộng cắt đôi đầm, và nếu người ta bán đất đầm làm khu công nghiệp thì chỉ vài tháng đổ cát sẽ không còn một dấu vết gì về một dòng tụ thủy lớn thời cổ nữa.

Gần đây, tác giả Phạm Thị Thủy Chung trong bài Sông Tiêu Tương với văn hóa Kinh Bắcđăng ngày 2-7-2007 trên trang điện tử của Viện Nghiên cứu Văn hóa lại cho rằng sông Tiêu Tương là đoạn cuối của sông Hoàng Giang, một chi lưu sông Hồng chảy qua Cổ Loa về Phù Lưu, qua Tam Sơn vào sông Cầu. Với nguồn cấp nước dồi dào như sông Hồng thì sông Đuống đã làm mất sông Dâu để tự mình thành một dòng sông lớn, lẽ nào con sông Tiêu Tương lại tự tiêu vong trước con sông Ngũ Huyện Khê chảy về từ nguồn nước Tam Đảo. Hơn nữa cũng chưa từng có văn bản hoặc truyền thuyết dân gian nào nói về sự liên quan giữa sông Tiêu Tương và sông Hồng. Do vậy nhận định của Phạm Thị Thủy Chung cũng vẫn chỉ là một giả thuyết. Giáo sư Trần Quốc Vượng trong bài Sông nước Tiêu Tươnghương Cổ Pháp(7-1996) lại mô tả song Tiêu Tương như sau: "Sông Tiêu Tương cũng là nhánh sông Hồng từ Hoa Lâm - Mai Lâm chảy qua Đình Bảng - đầm Phù Lưu và có hai nhánh, một nhánh chảy sang các làng Lũng Tiêu, Ó Chợ, Dương Ổ (làng Giấy) rồi chảy vào sông Thiếp (tức Ngũ Huyện Khê) ở vùng Đồng Bạch, một nhánh chảy xuống Đại Đồng rồi hòa nước vào sông Tào Khê chảy xuống Đại Đồng rồi hòa nước vào sông Tào Khê chảy dưới chân Phật Tích". Theo mô tả này, Ban quản lý di tích đền Đô đã có quy hoạch phục dựng sông Tương đoạn chảy qua Đình Bảng từ giáp thôn Trùng Quang (Gia Lâm) chảy phía đông đường 1A cũ, qua chùa Kim Đài vào hệ thống ao giữa làng, qua phía nam đền Đô xuống phía thôn Đại Đình. Việc phục dựng sông Tương không chỉ làm sống lại chuyện tình Trương Chi - Mị Nương mà còn vì tạo cảnh quan văn hóa và vai trò khởi nghiệp vương chiều Lý của nó.

Sông Tiêu Tương đã làm nên một vùng đồng bằng sầm uất, rồi phát tích nên vương triều Lý, dù nay đã bị lấp bồi nên ruộng nên làng nhưng nó sẽ mãi tồn tại vì đã gắn liền với huyền sử văn hóa Kinh Bắc.

Sông Thiên Đức

Giáo sư Trần Quốc Vượng trong bài viết nghiêng Tiêu Tương hương Cổ Phápcòn nêu ra nhận định sông Thiên Đức, tức sông Bắc Giang do vua Lý Công Uẩn lên ngôi đổi tên, không phải là sông Đuống mà là con sông nội vùng chảy song song với sông Tiêu Tương, có vai trò quan trọng nhất với việc khởi nghiệp vương triều Lý. Con sông này còn thấy dấu vết từ dốc Lừ bên hữu Đuống chảy qua Sủi về Dương Đanh, Dương Đá vào sông Nghĩa Trụ. Đây là một nhận định mới mẻ so với nhận thức trước đó. Nếu đúng thì sông Thiên Đức cũng đã bị lấp hết và chỉ còn trong tâm thức dân gian về việc vua Lý Thái Tổ đổi tên cho nó mà thôi. Sở dĩ có nhận định này là do giáo sư Trần Quốc Vượng đứng từ núi Tiêu Sơn, nơi có mộ Hiển Khánh Vương, thân sinh vua Lý Thái Tổ, nhìn ra phong thủy, thấy tay long là dãy Nham Biền và dòng sông Cầu, vậy tay hổ là dãy Tiên Du và sông Thiên Đức (có dòng chảy theo hướng tây Tiên Du do đó không phải là sông Đuống). Tuy nhiên, nhận định này phải chứng minh sông Đuống và hệ thống đê của nó là con sông đào có sau thời Lý Thái Tổ, thậm chí có sau cả thời Lý vì nhà vua khởi nghiệp đã đặt tên Thiên Đức cho nó.

Theo sách Đại Việt sử kí toàn thưthì trước thời Lý, vùng Kinh Bắc là lộ Bắc Giang, tên đất đặt theo tên sông. Theo nhận định của giáo sư Trần Quốc Vượng thì sông Thiên Đức chưa có vai trò gì lớn so với cả vùng đất rộng lớn, khó có thể được đặt tên cho đất. Mặt khác địa danh các huyện Tiên Du, Quế Võ bên bờ bắc sông Đuống hầu như không có sự đan xen với các huyện Thuận Thành, Gia Bình ở nam Đuống để chứng tỏ ngày xưa sông Đuống đã khá lớn vì là chỉ lưu của sông Hồng. Vào thời Trần, thuyền vua từng bị mắc cạn ở sông Đuống, đoạn Bồng Lai, phải tế trâu trắng mới đi được. Nguyễn Trãi từng đi thuyền từ kinh thành về Côn Sơn có ghé thăm chùa Phật Tích (thơ Nguyễn Trãi). Vua Lê Thái Tông cũng từ Côn Sơn về kinh thành theo sông Đuống và đột tử ở Lệ Chi Viên, xảy ra thảm án đưa Nguyễn Trãi đến họa diệt thân. Thơi văn bia mộ Thượng thư Trần Danh Lâm do chúa Trịnh đề tặng cũng có câu nói sông Đuống là sông Thiên Đức. Thời chống Pháp, đơn vị quân đội tỉnh Bắc Ninh cũng mang tên Thiên Đức. Như vậy cho thấy sông Đuống do là chỉ lưu sông Hồng nên lớn hơn các sông nội vùng, và vào thời Nguyễn có việc mở rộng vai trò điều tiết nước sông Hồng nên sông Đuống rộng lớn như ngày nay. Và tất cả đều khẳng định sông Đuống chính là sông Thiên Đức thời Lý, sông Bắc Giang thời Đinh - Lê. Ngày nay sông Thiên Đức chỉ bị lấp về tên gọi mà thôi.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Tạo động lực phát triển, đưa ngành công nghệ sinh học Việt Nam lên tầm cao mới
Hội nghị Khoa học toàn quốc về Công nghệ sinh học 2026, diễn ra trong hai ngày 7 và 8/8 tại Đại học Đông Á, Đà Nẵng, không chỉ là sự kiện học thuật mà còn là một dấu mốc chiến lược, điểm hội tụ trí tuệ nhằm định hình lại quỹ đạo phát triển của ngành công nghệ sinh học Việt Nam...
Nghệ An: Khai mạc vòng chung kết Cuộc thi sáng tạo dành cho thanh, thiếu niên, nhi đồng
Sáng 7/8, Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, Tỉnh đoàn và trường Cao đẳng công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc tổ chức khai mạc vòng chung kết Cuộc thi sáng tạo dành cho thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh năm 2026.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long
Ngày 7/8, tại Vĩnh Long, GS.TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam dự và phát biểu tại Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. Đây là Đại hội đầu tiên sau hợp nhất Liên hiệp Hội ba tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Vĩnh Long, mở ra một giai đoạn phát triển mới của đội ngũ trí thức KH&CN trên địa bàn tỉnh.
Thống nhất quy định để doanh nghiệp không phải khai báo nhiều lần
Sáng 7/8, Tổ 15 (gồm Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ, TP. Đà Nẵng) thảo luận về: dự án Luật Phát triển đô thị; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.
Nghệ An: Trao 162 giải thưởng Olympic Hóa học 19-5
Cuộc thi đã truyền đi thông điệp mạnh mẽ về sự hấp dẫn của Hóa học và lan tỏa tình yêu của Hóa học đương đại đến mọi người. Thành công của cuộc thi là lời khẳng định về vai trò của Hóa học trong đời sống và tương lai của đất nước.
Xây dựng hành lang pháp lý phát triển đô thị Việt Nam
Chuyển mạnh từ tư duy quản lý đô thị sang kiến tạo phát triển đô thị là một trong những nội dung được nhiều chuyên gia góp ý tại Hội thảo “Đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật Phát triển đô thị” do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp cùng Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam và Tổng Hội Xây dựng Việt Nam tổ chức sáng 5/8, tại Hà Nội.