Yếu tố nguy cơ tim mạch
Ba yếu tố không thay đổi được
Tuổi đời:thương tổn vữa xơ động mạch xuất hiện rất sớm, thuở còn trẻ;
Di truyền;
Giới tính: tử vong về bệnh mạch vành, trung bình xảy ra trễ hơn 10 năm ở phụ nữ so với nam giới, nhưng số lượng tuyệt đối là bằng nhau ở hai giới, do nữ sống lâu hơn nam.
Các yếu tố thay đổi được
Thuốc lá: hút trên 20 điếu thuốc lá/ ngày có nguy cơ bệnh mạch vành nhân lên 3; nguy cơ bệnh động mạch vành chi dưới nhân lên từ 2 đến 7 lần. Ngược lại, cai thuốc lá rất hiệu nghiệm trong phòng ngừa bậc hai, bởi nguy cơ tim mạch giảm 50% sau 1 năm cai, và sau 5 năm cai là trở lại như dân số bình thường không từng nghiện thuốc lá.
Cao huyết áp: nguy cơ biến chứng tim mạch tỷ lệ thuận với mức cao huyết áp, tương quan chặt chẽ với nguy cơ xảy ra tai biến mạch máu não hay nhồi máu cơ tim. Bởi lẽ, huyết áp tâm trương tăng 30 mmHg nhân lên đến 10 nguy cơ tai biến mạch máu não và lên đến 4 nguy cơ nhồi máu cơ tim. Điều trị cao huyết áp làm giảm đi từ 30 – 40% xảy ra tai biến mạch máu não, và từ 10 - 15% xảy ra tai biến mạch máu vành.
Loạn lipid huyết:Số người mắc bệnh - tử vong về bệnh tim mạch gắn liền với tăng LDL - cholesterol và giảm HDL - cholesterol. Liên hệ này ít rõ nét ở phụ nữ. Giảm 25 - 35% LDL - cholesterol hạ nguy cơ tương đối sự cố mạch vành từ 25 - 35%. Tăng 0,01 g/l HDL - cholesteron làm tăng 2% nguy cơ mạch vành; ngược lại HDL - cholesterol dưới 0,35 g/l làm tăng nguy cơ.
Đái tháo đường: trong týp 1, nguy cơ biến chứng tim mạch xuất hiện sau 15 năm tiến triển nhất là không được điều trị tốt và có vi albumin – niệu.
Trong týp 2, biến chứng tim mạch chiếm 30% toàn bộ các biến chứng của bệnh đái tháo đường người bệnh đang mang. Một công trình nghiên cứu chứng minh giảm 0,9% tỷ lệ HbA1C làm hạ 16% nguy cơ xảy ra nhồi máu cơ tim.
Béo phì:Đánh giá bằng chỉ số khối lượng thân thể (*). Bình thường là 20 - 25 ở nam giới và từ 19 - 24 ở nữ giới. Trên 27 gọi thừa cân, trên 30 gọi béo phì, trên 40 gọi béo phì bệnh hoạn. Nguy cơ tim mạch tăng nhất là ở người béo phì dạng nam. Đo trong thực tiễn vòng bụng (*) (≥ 94 cm ở nam và ≥ 80 cm ở nữ).
Các yếu tố dinh dưỡng:Tỷ lệ axit béo bão hòa và cholesterol trong chế độ ăn uống tương quan thật sự gia tăng nguy cơ xảy ra hiện tượng mạch vành. Cũng được chứng minh về khối lượng rượu uống hằng ngày, các chế độ ăn uống nhiều hoa quả, nguồn yếu tố chống oxy hóa, có liên quan nhất định với nguy cơ tim mạch.
Các yếu tố khác:Tâm lý - xã hội và môi trường nghề nghiệp khó thể định lượng. Các nghiên cứu mới về tăng homocystein - huyết, tăng fibrinogen, CRP… nằm ngoài tầm nghiên cứu của ta hiện nay…
(*) Nguồn các con số: Từ công trình nghiên cứu của Interheart đăng trong tạp chí Lancet 2004; thực hiện tại 52 nước trong 5 châu gồm 30.000 bệnh nhân trường hợp đối chứng.
(*) Chỉ số khối lượng thân thể: indice de masse corporelle (IMC): Body mass index (BMI):Tỷ số trọng lượng (bằng kg) với bình phương chiều cao (bằng m).
(*) Đo vùng bụng: tại vùng hẹp nhất của mình trên, giữa xương sườn cuối cùng và mào chậu, người được đo ở tư thế đứng, hai chân bẹt xa độ 25 đến 30cm, sau khi thở ra bình thường.
(*) Lời dặn của chuyên khoa:
- Phát hiện yếu tố nguy cơ trước biến chứng.
- Giải thích rõ các yếu tố nguy cơ và lợi ích của việc tránh, rất thường thiếu thông tin.
- Đả phá ý kiến sai lầm: vận động giải độc thuốc lá; béo phì do duy nhất yếu tố di truyền…
- Không nên muốn đạt bình thường hóa tất cả các yếu tố nguy cơ cùng một lúc. Phải từ từ và có mục tiêu.








