Xuyên khung
Ý nghĩa về tên
Xuyên khung: cây Khung cùng nguồn gốc ở tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc.
Khung cùng: chỗ cao cuối cùng của con người. Vị thuốc này chữa có hiệu quả các bệnh ở đầu não.
Xuyên khung là cây thuốc được trồng từ lâu đời ở Trung Quốc, đã di thực thành công vào nước ta và trồng trên diện tích lớn ở những vùng mát, cao độ từ 800 m trở lên như Sapa, Bắc Hà (Lào Cai), Sìn Hồ (Lai Châu), ngoài ra còn được trồng ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Đồng Văn (Hà Giang). Nhân giống bằng mầm thân sau khi thu hoạch củ. Thời kỳ hưng thịnh là thập kỷ 60, 70 và đầu 80. Sau đó vì giá cả không cạnh tranh được với Xuyên khung Trung Quốc nên phong trào trồng Xuyên khung lại xẹp đi.
Xuyên khung là cây thảo, sống lâu năm, thân mềm, mọc thẳng. Mặt ngoài có gân dọc nổi rõ, ruột rỗng. Lá xẻ lông chim kép 3 lần, các thùy mọc đối, phiến lá rách sâu. Toàn cây có mùi thơm, nhất là thân rễ và rễ. Cụm hoa mọc thành tán kép, quả bế, hình trứng.
Bộ phận dùng
Thân rễ, thu hái khi có mấu thân phình ra. Loại bỏ cát, rễ con, phơi sấy khô.
Thành phần hoá học
Tinh dầu 1%, dầu béo, axit ferulic, các phthalid như butyl phthaid, butyliden phthalid, ligustilid.
Tác dụng dược lý
Các phthalid có hoạt tính chống loạn nhịp tim, gây giãn động mạch vành. Ức chế co bóp tử cung chuột cống trắng thí nghiệm không mang thai (gây co bóp tử cung bằng prostaglandin F2 a ).
Cao Xuyên khung có tác dụng làm tăng khả năng biến dạng của hồng cầu và làm cho sự phục hồi hồng cầu nhanh hơn (do làm thay đổi tính cơ học của màng hồng cầu).
Xuyên khung có tác dụng làm giảm huyết áp trên mèo gây mê bằng cloral hyđrat (có thể do tác dụng trực tiếp trên cơ trơn mạch máu, gây giãn mạch).
Xuyên khung có tác dụng làm giảm cholesterol máu trong các mô hình thực nghiệm gây tăng cholesterol (trên chuột cống trắng, chuột nhắt).
Tinh dầu Xuyên khung có tác dụng kháng khuẩn trên: tụ cầu vàng, phế cầu, liên cầu tan máu, Streptococcus faecalis, các trực khuẩn lỵ (Shigella shigae, S. Sonnei, S. Slexneri), Bacillus subtilis, Escherichia coli, Klebssiella pneumoniae, trực khuẩn mủ xanh.
Công năng, tính vị
Xuyên khung vị cay, tính ôn vào các kim Tâm bào, Can, Đởm có tác dụng hoạt huyết, hành khí, hành ứ.
Đông y có khái niệm: bất thông tắc thống, nghĩa là không thông thì đau. Xuyên khung là thảo dược duy nhất có 3 tác dụng: hoạt huyết, hành khí, hành ứ, giúp cho khí huyết lưu thông, mang dưỡng khí, dưỡng chất, dược chất đến mọi tổ chức, tế bào (nhất là não), do đó Xuyên khung được phối hợp với các vị thuốc khác để chữa nhiều bệnh từ nội thương (đau do bệnh tật trong cơ thể) đến ngoại thương (đau do chấn thương) từ xương, cơ, đến tim, não. Từ thuốc bệnh đến thuốc bổ. Nó có mặt trong nhiều bài thuốc cổ phương danh tiếng như Tứ vật (Khung, Quy, Thục, Thược) trên cơ sở bài Tứ vật, thêm một số vị tuỳ theo thể trạng người bệnh mà chọn lựa, tạo nên bài thuốc chữa bệnh rất hiệu qủa. Hoặc phối hợp Tứ vật với Tứ quân tử (Sâm, Linh, Truật, Thảo) thêm một số vị thuốc khác sẽ thành bài thuốc bổ (Thập toàn đại bổ) hoặc chữa bệnh.
Kiêng kỵ
Người thể trạng âm hư, hoả vượng không dùng.
Một số bài thuốc
Bột Xuyên khung: Xuyên khung tán bột, mỗi lần uống 4 - 6g, ngày 2 lần. Chiêu thuốc bằng nước chè. Chữa các chứng nhức đầu như thiên đầu thống (đau nửa đầu), nhức đầu sau khi sinh, rối loạn tuần hoàn não.
Chữa nhức đầu do cảm cúm sốt cao: Xuyên khung 13g, Bạch chỉ 15g, Hương phụ 13 g, Cao khương 2g, Quế nhục 2g, Camthảo bắc 3g. Tất cả tán bột mịn. Liều dùng: Người lớn mỗi lần uống 2g x 3 lần/ ngày, chiêu với nước ấm. Trẻ em dưới 12 tuổi mỗi lần uống 1g x 3 lần/ ngày.
Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 337, 1 - 8 - 2007, tr 21.








