Xuân về rau khúc tốt tươi
Tiếng rao “Bánh khúc nóng” tối khuya đã thành kỷ niệm đối với người xa xứ. Bánh có tên khúc là do làm bằng lá Khúc non giã nát trộn đỗ lẫn nếp nhân mỡ và Đậu xanh, hạt tiêu, hương cà cuống. Rau Khúc còn chia ra làm 2 loại Khúc nếp và Khúc tẻ, tên Hán là Thử khúc hảo. Rau Khúc nếp tên khoa học Gnaphalium affineD. Don = G. multicepsWall esc DC. Họ Cúc Asteraceae. Rau Khúc phân bố vùng viễn đông. Ở nước ta mọc trên đất trống ruộng hoang, nhất là miền Bắc và Bắc Trung bộ. Rau Khúc tẻ cũng có ở nước ta còn gọi là Khúc Ấn ( Gnaphalium indicumL.). Cây cao 10 – 20cm, màu trắng, nhiều lông trắng như nhung, hoa vàng, lá thuôn dài trái xoan, quả cũng thuôn dài. Lá và ngọn non của rau Khúc làm rau luộc nấu canh ăn như các rau khác. Để làm thuốc, thu hái rau non tốt nhất vào tháng giêng, mùa đông xuân mát lạnh, hái trước khi cây ra hoa, rửa sạch đất, dùng tươi hay khô. Rau Khúc có vị ngọt, tính bình, vào tỳ phế có tác dụng tiêu đàm, trị ho suyễn, thấp khớp, huyết áp cao. Trong dân gian hay dùng chữa viêm họng làm ấm họng, có lẽ vì thế có nơi còn gọi với tên cây Bỏng họng.
Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thân lá rau Khúc tươi (Viện Chăn nuôi 1979).
Thành phần hóa học: nước 94,3%; protein 1,4%; lipit 0,5%; celluloz 1,9%; dẫn xuất không protein 0,9%.
Trong 1kg thức ăn có: năng lượng trao đổi 132 Kcal; protein tiêu hóa 9g; canxi 0,9g; phốtpho 0,6g.
Toàn cây có tinh dầu có thể dùng làm cây hương liệu. Đây là thành phần quan trọng đem đến những công dụng của rau Khúc. Để bảo toàn tinh dầu nên dùng tươi và khi sắc lên để nước sôi mới cho rau vào, sôi lại, nhắc ra dùng ngay.
Chú ý: Bánh khúc phải thơm ấm, tránh ăn bánh khúc “dỏm” làm bằng lá khác như lá Bắp cải, lá Su hào chẳng hạn sẽ cho tác dụng của Su hào, Bắp cải và không cho các tác dụng của rau Khúc. Bánh khúc đó thường xuất hiện trái mùa rau Khúc được rao bán suốt năm.
Một số bài thuốc thường dùng:
- Chữa cảm sốt:Rau Khúc khô 30g, Gừng và Hành mỗi thứ 10g. Sắc uống nóng cho ra mồ hôi. Kèm với xông càng hiệu quả.
- Viêm họng: Rau Khúc tươi, rửa sạch, nhằn trong miệng cùng với hạt muối, nuốt dần. Có tác dụng khi dùng tại chỗ. Ngày làm 2 – 3 lần.
- Ho: Rau Khúc 10 – 16g, sắc với 300m nước còn 100 ml chia 2 – 3 lần uống trong ngày. Có thể chế dưới dạng hãm nước sôi để uống hoặc trộn mật ong hấp cơm.
- Hen suyễn: Rau Khúc tươi một nắm, rửa sạch vò nát, một miếng Gừng già cỡ 2 đốt ngón tay đập dập. Sắc với 2 bát nước còn 1 bát, chia 2 lần uống trong ngày.
- Chữa nhiệt lỵ và đầy bụng ở trẻ em bằng cách sắc uống hoặc thái nhỏ đúc với trứng gà như vẫn làm với lá Mơ tam thể (Mơ lông).
- Chấn thương va đập, sưng đau, tụ máu, thấp khớp, thống phong, nấm kẽ chân lở loét: Rau Khúc tươi một nắm, rửa sạch trộn ít hạt muối giã nhuyễn để đắp chỗ tổn thương. Nếu kèm uống trong hiệu quả càng cao.
- Theo kinh nghiệm Trung Quốc dùng làm thuốc chữa viêm khí quản mạn tínhvới công thức sau: Rau Khúc 15g, Khoản đông hoa, lá Tỳ bà, nhân hạt Mơ mỗi vị 10g. Sắc uống. Ngoài ra, còn dùng chữa bạch đới của phụ nữ.
- Có sách nói chữa được tê bại do lạnh, sốt rét.
- Chữa rắn rết cắndùng lá tươi lấy nước uống, bã đắp nơi bị cắn.
Nguồn: Thuốc & Sức khỏe, số 329, 1/4/2008, tr 26.








