Xử trí phỏng
Các tác nhân gây phỏng
- Nhiệt:than, củi, dầu, khí đốt đang cháy, nước sôi, dầu mỡ đang nấu, bàn ủi…
- Hoá chất:chất kiềm hoặc axit mạnh.
- Tác nhân vật lý:tia tử ngoại, tia X.
Đánh giá mức độ phỏng
+ Theo diện tích phỏng
- Ở người lớn(theo tỷ lệ diện tích da toàn thân): đầu: 9%; mỗi chi trên: 9%; mỗi chi dưới: 18%; thân mình: 36%; bộ phận sinh dục: 1%.
Phỏng từ 8 – 10% trở lên được xem là phỏng nặng. Riêng đối với bộ phận sinh dục (dù chỉ chiếm 1%) nếu phỏng toàn bộ thì phải xem là nặng.
- Ở trẻ em:Đầu và cổ: 18%; thân mình: 27%; mỗi chi trên 9%; mỗi chi dưới: 18%; bộ phận sinh dục: 1%.
+ Theo độ sâu
- Độ 1(phỏng nông, nghĩa là chỉ tôn thương lớp biểu bì): da có màu hồng, cảm giác nóng, đau khó chịu; thường do nước nóng, hơi nước nóng, cháy nổ không gây cháy quần áo, chạm vào vật nóng, phỏng nắng…
- Độ 2(phỏng trung gian): biểu hiện gần giống phỏng độ 1, nhưng vết phỏng có thể hơi nhợt nhạt, có phồng nước, giảm cảm giác, vùng phỏng ẩm ướt và đỏ; do nắng gắt kéo dài, lửa, mỡ nóng, nước sôi…
- Độ 3(phỏng sâu): lớp da sâu bị cháy (có thể cháy đen), lớp da ngoài có thể mất hoàn toàn; có thể có tổn thương thần kinh, mạch máu, tuyến mồ hôi, phỏng khô, nhăn nhúm và mất cảm giác. Thường do ngâm lâu trong nước sôi, điện giật, cháy áo quần, hoá chất…
- Độ 4(phỏng rất sâu): da bị cháy hoàn toàn, mất hết lớp dưới da, lan sâu xuống mô mỡ, cơ, có thể tới xương…; do phỏng lửa kéo dài, điện giật, tiếp xúc với kim loại đang nóng đỏ, bức xạ hạt nhân, bị tạt axit (mà không được sơ cứu ngay).
+ Theo vị trí
Phỏng ở đầu, mặt, mắt, tai, mũi, hậu môn và cơ quan sinh dục được xem là nghiêm trọng, nhất thiết phải đưa đi bệnh viện để xử trí.
+ Theo thể trạng
Phỏng ở trẻ em dưới 12 tuổi, người già và người suy nhược được xem là nặng.
Làm gì khi bị phỏng?
Nguyên tắc xử trí
![]() |
Làm nguội ngay vết phỏng.
Đánh giá mức độ phỏng để có hướng xử trí. Nếu là phỏng độ 3, độ 4, phải chuyển đi bệnh viện ngay; phỏng độ 2 có diện tích trên 10% là nặng.
Không cởi bỏ quần áo đã dính vào vết phỏng, mà phải cắt bỏ. Cởi tất cả đồ vật chèn ép ở vị trí phỏng, như nhẫn, đồng hồ đeo tay, vòng thắt lưng, giày…
Không bôi các thứ kem, mỡ, thuốc kháng sinh lên vết phỏng (càng không nên đổ nước mắm).
Không lể hoặc làm vỡ vết phỏng nước.
Xử trí
- Độ 1(nhẹ): có thể xử trí, theo dõi tại nhà.
Rửa vết thương với nhiều nước sạch, có thể ngâm ngay phần bị phỏng vào nước lạnh (không dùng nước đá); hoặc dùng túi chườm đá, băng gạc thấm nước lạnh đắp lên vùng phỏng 15 – 20 phút, nhằm làm giảm đau và giảm sưng nề.
Có thể bôi dầu mù u để chống nhiễm trùng, sau đó dùng gạc tẩm vaselin đắp lên vết phỏng.
Băng nhẹ bên ngoài vết phỏng bằng gạc lót bông tiệt trùng (không dùng nhiều bông và không băng kín vết phỏng).
Nếu đau nhiều, có thể cho dùng thuốc giảm đau.
Không nên thay băng nhiều lần (ngoại trừ vết phỏng có chảy nhiều nước). Khi thay băng, dùng nước muối sinh lý (NaCl 0,9%) ngâm thấm để dễ bóc lớp băng gạc. Có thể rửa bằng dung dịch betandin pha loãng 1/10, rồi thấm khô. Thường chỉ nên thay băng sau 7 – 10 ngày. Nếu tháo băng thấy vết thương lành tốt thì nên để hở và bôi dầu mù u, rồi phủ một lớp vaselin để giúp cho vảy dễ bong. Nếu có biểu hiện nhiễm trùng (mủ vàng, rỉ nước nhiều, sốt…) phải đi khám bác sĩ ngay.
- Độ 2(phỏng vừa): xử trí như phỏng độ 1 trong trường hợp phỏng ít. Khi phỏng chiếm diện tích trên 10% (hoặc 8% ở trẻ em), không nên giữ ở nhà. Trước khi chuyển, cần thực hiện một số công việc như: áp lạnh ở diện phỏng nhỏ hoặc ngâm vùng phỏng vào nước lạnh. Nếu là phỏng mỡ, dầu ăn thì rửa sạch bằng gạc vô trùng ngâm nước xà phòng thấm khô nhẹ nhàng, tránh làm vỡ chỗ phỏng. Có thể bôi dầu mù u để sát trùng vết phỏng, sau đó bôi vaselin và băng vô trùng. Nếu phỏng ít ở vùng da mỏng, có thể chích cho dịch thoát ra để vết phỏng mau lành. Chú ý chống nhiễm trùng, bôi dầu mù u thường xuyên.
- Độ 3 và 4(phỏng nặng): cần đưa đi bệnh viện ngay. Thực hiện sơ cứu ban đầu: chú ý tình trạng tuần hoàn và hô hấp (bởi phỏng nặng có thể gây sốc), nếu cần thì hồi sức tim phổi ngay. Dùng băng khô vô trùng băng phủ kín vết phỏng. Nếu diện tích phỏng nhỏ (khoảng 5m 2) có thể ngâm vào nước lạnh, sau đó thấm khô.
Những điều cần chú ý
Phỏng mắt thường do hoá chất gây ra, cần khẩn cấp loại ngay nguyên nhân gây phỏng bằng cách nhỏ nước vào mắt để rửa liên tục ít nhất trong 15 phút. Phỏng do kiềm cần rửa nước lâu hơn (30 – 40 phút). Sau đó băng gạc vô trùng rồi chuyển đi bệnh viện.
Phỏng do hoá chất phải rửa sạch bằng nước lạnh. Lấy hết quần áo và đồ dùng. Đắp gạc lạnh hoặc gạc tẩm sẵn thuốc lên vết phỏng.
Phỏng điện cần được sơ cứu. Tình trạng phỏng có thể diễn tiến nặng hơn sau đó. Đến bệnh viện để khám và theo dõi.
Những vết phỏng ở vùng nếp gấp và ở các lỗ tự nhiên (mắt, mũi, hậu môn…) cần sơ cứu và xử trí đúng, nếu không sẽ gây sẹo co rút và hạn chế chức năng các vùng này.
Trong khi đang điều trị phỏng, cần chú ý ăn uống đầy đủ chất đạm và các vitamin để vết phỏng mau lành.
Không đắp bông gòn trực tiếp lên vết phỏng đã vỡ nước.
Đề phòng phỏng
- Thực hiện đúng quy định về an toàn phòng cháy chữa cháy. Thường xuyên kiểm tra mạng lưới điện sử dụng, bếp gas, các chất dễ cháy, nổ.
- Không nên dùng bình gas cũ, sạc nhiều lần.
- Không để trẻ em tiếp xúc với nguồn điện, bếp lửa, đèn dầu, diêm và các chất dễ cháy.
- Thận trọng khi đun nấu và khi vừa đun nấu xong. Đề phòng phỏng do ống “bô” xe máy, xe hơi…









