Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 20/07/2010 07:00 (GMT+7)

Xử lý nước thải – Vấn đề trọng tâm trong công tác bảo vệ môi trường lưu vực sông

Thực trạng và nguyên nhân ÔNMT nước của các lưu vực sông

Tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên của mỗi lưu vực, môi trường nước sông cũng chịu những tác động khác nhau. Lưu vực sông Cầu chịu tác động lớn từ hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, sự xâm hại mạnh đến rừng đầu nguồn làm cho diện tích rừng và độ che phủ bị thu hẹp và chịu áp lực của nước thải phát sinh từ các làng nghề trên lưu vực. Lưu vực sông Đồng Nai chịu ảnh hưởng lớn của nước thải đô thị và KCN chưa được xử lý trước khi xả thải ra môi trường. Lưu vực sông Nhuệ - Đáy chịu áp lực từ nước thải đô thị, nước thải công nghiệp và làng nghề.

Sự suy giảm nhanh diện tích rừng tự nhiên tại Bắc Kạn và Thái Nguyên những năm gần đây đã tác động đến chế độ dòng chảy Sông Cầu. Theo số liệu thống kê của các cơ quan chuyên môn, độ che phủ của rừng của hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên đã giảm từ khoảng 44% năm 1999 đến nay còn khoảng 34%. Việc suy giảm diện tích rừng đầu nguồn đã làm mất khả năng điều tiết dòng chảy sông Cầu, dẫn đến tình trạng mùa lũ, dòng chảy được tập trung nhanh, bề mặt bị xói lở mạnh và cường suất lũ lớn, dòng chảy bị ô nhiễm do hàm lượng chất lơ lửng cao gây bồi lắng lòng sông. Mùa khô thì ngược lại, dòng chảy bị cạn kiệt, quá trình lưu thông và khả năng tự làm sạch của dòng chảy bị hạn chế, nước thải công nghiệp chưa qua xử lý trộn lẫn với nước tự nhiên làm gia tăng hàm lượng các chất ô nhiễm và gây ô nhiễm cục bộ tại một số khu vực.

Hoạt động khai thác khoáng sản và tuyển khoáng sử dụng nhiều hoá chất độc hại tại Bắc Kạn, Thái Nguyên đã tác động không nhỏ đến chất lượng nước sông Cầu, mỗi ngày hoạt động này phát sinh khoảng 16.000 m 3nước thải không qua xử lý. Kết quả thanh tra cuối năm 2007 tại tỉnh Thái Nguyên cho thấy, nước thải của các cơ sở chế biến khoáng sản trong khu gang thép Thái Nguyên có hàm lượng chất nguy hại (dầu mỡ khoáng, cyanua, phenol, cd, CrVl,…) vượt TCCP từ 4 đến 6 lần, mỗi ngày khu gang thép Thái Nguyên xả ra sông Cầu khoảng 6.000 m 3nước thải sản xuất. Khu vực thị xã sông Cầu chất lượng xả thải của các cơ sở cũng có hàm lượng các chất nguy hại vượt TCCP nhiều lần, cá biệt, nước thải tại cửa xả tập trung của KCN Sông Công có hàm lượng Cd vượt TCCP trên 140 lần, mỗi ngày KCN Sông Công và cơ sở sản xuất kinh doanh ở khu vực này xả ra sông Cầu khoảng 1.000 m 3nước thải.

Ước tính mỗi ngày sông Nhuệ - Đáy tiếp nhận khoảng 900.000 m 3nước thải các loại, trong đó có khoảng 600.000 m 3nước thải sinh hoạt đô thị, 250.000 m 3nước thải công nghiệp, 40.000 m 3nước thải phát sinh từ các làng nghề và 10.000 m 3nước thải y tế; trong đó, Hà Nội chiếm khoảng 54% lượng nước thải sinh hoạt của toàn lưu vực. Hầu hết nước thải sinh hoạt đô thị của các địa phương trên lưu vực xả ra sông không qua xử lý, nước thải sinh hoạt của Hà Nội xả ra sông Nhuệ làm cho nước sông Nhuệ - Đáy bị ô nhiễm do các chất hữu cơ và vi khuẩn, không đảm bảo tiêu chuẩn cho mục đích cấp nước sinh hoạt.

Nguồn ô nhiễm nước sông Nhuệ - Đáy sau nước thải sinh hoạt đô thị là nước thải y tế, phát sinh từ các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh. Khoảng 50% lượng nước thải y tế của các bệnh viện đã có hệ thống xử lý, nhưng do thiếu kinh phí hoặc công nghệ xử lý lạc hậu, lỗi thời nên nhiều bệnh viện không vận hành hoặc vận hành nhưng chất lượng nước sau xử lý không đạt TCCP. Kết quả phân tích chất lượng xả thải của một số bệnh viện lớn tại TP. Hà Nội, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình cho thấy hầu hết các bệnh viện được kiểm tra lấy mẫu có hàm lượng NH 4+vượt TCCP từ 20,4 đến 67,9 lần, Coliform vượt từ 7,5 đến 910.000 lần; phenol vượt từ 3,5 lần đến 4,2 lần, BOD 5(nhu cầu ô xy sinh hóa) vượt từ 2,5 đến 3,3 lần.

Sau nước thải y tế, nước thải công nghiệp cũng đóng góp đáng kể, làm gia tăng ÔNMT nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy. Với khoảng 50% số cơ sở được kiểm tra những năm qua đã có hệ thống xử lý nước thải nhưng tỷ lệ nước thải phát sinh được xử lý đạt TCCP chỉ chiếm khoảng 7,4%, 92,6% nước thải của các cơ sở được kiểm tra, đánh giá tại Hà Nội, Hà Tây (cũ), Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình xả ra môi trường có hàm lượng BOD 5vượt TCCP từ 1,5 đến 38,8 lần, COD (nhu cầu ô xy hóa học) vượt từ 1,26 đến 26,7 lần; NH 4+vượt từ 4,1 đến 174 lần, Phenol vượt từ 1,28 đến 18,2 lần, Coliform vượt từ 2,1 đến 110 lần và dầu mỡ khoáng vượt từ 1,2 đến 9,6 lần.

Nguồn ô nhiễm quan trọng nữa trên lưu vực sông Nhuệ-Đáy là nước thải làng nghề. Mặc dù chỉ ô nhiễm cục bộ tại các cụm làng nghề nhưng nếu không được xử lý thì về lâu dài cũng là áp lực không nhỏ đối với môi trường nước sông Nhuệ - Đáy. Kết quả kiểm tra một số làng nghề tại Hà Nội, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình cho thấy hầu hết các cơ sở sản xuất trong làng nghề bị ô nhiễm rất nghiêm trọng. Nước thải làng nghề không được xử lý, hoặc đã có hệ thống xử lý nhưng không đạt TCCP.

Hệ thống sông Đồng Nai mỗi ngày tiếp nhận khoảng 480.000 m 3nước thải công nghiệp, 900.000 m 3nước thải sinh hoạt, 17.000 m 3nước thải y tế. Do lưu lượng dòng chảy của sông Đồng Nai khá lớn, nên áp lực ÔNMT nước sông Đồng Nai chưa đến mức nghiêm trọng như ở sông Nhuệ-Đáy. Tuy nhiên, tại một số khu vực, nước sông cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng (sông Thị Vải), do hàng ngày phải tiếp nhận một lượng lớn nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt của các đô thị; mặt khác, do vùng hạ lưu sông Đồng Nai chịu tác động của chế độ thủy triều, dòng nước bị ô nhiễm được đẩy ngược vào trong sông mỗi khi thủy triều lên, làm tăng mức độ ÔNMT nước khu vực hạ lưu. Điển hình là sông Thị Vải, theo kết quả kiểm tra, thanh tra những năm qua, trên đoạn sông dài khoảng 10 km, mỗi ngày tiếp nhận khoảng 33.000 m 3nước thải công nghiệp của tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa -Vũng Tàu, trong đó chỉ có 15,3% lượng nước thải được xử lý đạt TCCP.

Ngoài điểm ô nhiễm sông Thị Vải, lưu vực sông Đồng Nai còn bị ô nhiễm khá nghiêm trọng do hàng ngày phải tiếp nhận một lượng lớn nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt đô thị và nước thải y tế của TP. Hồ Chí Minh. Là địa phương có mật độ dân số đông, tập trung nhiều KCN tập trung và nhiều cơ sở sản xuất nên lượng nước thải phát sinh chiếm khoảng 77,5% nước thải của toàn lưu vực. Ước tính mỗi ngày TP. Hồ Chí Minh xả ra sông Sài Gòn khoảng 360.000 m 3nước thải công nghiệp, 750.000 m 3nước thải sinh hoạt đô thị và khoảng 14.000 m 3nước thải y tế. Theo kết quả thanh tra năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ có 6% nước thải công nghiệp được xử lý đạt TCCP.

Cũng như Hà Nội, hầu hết nước thải đô thị của TP. Hồ Chí Minh xả ra môi trường chưa qua xử lý làm cho nước mặt của thành phố bị ô nhiễm nghiêm trọng. Theo kết quả quan trắc của cơ quan chuyên môn, nhiều kênh rạch trong thành phố có hàm lượng BOD 5vượt từ 6-16 lần, COD vượt từ 5 - 68 lần TCCP. Nguồn ô nhiễm thứ ba tác động đáng kể đến môi trường nước sông Sài Gòn là nước thải y tế phát sinh từ các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố. Theo thống kê của Sở TN&MT TP. Hồ Chí Minh, mới có khoảng 20% lượng nước thải y tế được xử lý đạt TCCP, còn lại khoảng 80% tương đương khoảng 11.000 m 3/ngày, xả ra môi trường mang theo nhiều loại vi khuẩn gây bệnh, hầu hết các mẫu nước thải được phân tích có coliform vượt TCCP ít nhất là 100 lần, thậm chí có mẫu vượt TCCP đến hàng ngàn lần.

Theo dự báo của cơ quan chuyên môn, nếu chúng ta không có các biện pháp BVMT hợp lý và hiệu quả, đến năm 2010, lượng nước thải đổ vào sông Cầu sẽ tăng khoảng 1,5 lần, sông Nhuệ-Đáy tăng từ 1,2 - 1,9 lần và hệ thống sông Đồng Nai sẽ tăng khoảng từ 1,5 - 1,7 lần so với năm 2005. Cũng có nghĩa là nếu nước thải không được xử lý thì tình trạng ô nhiễm cũng phát triển tương ứng hoặc cao hơn lượng nước xả tăng thêm trên các lưu vực sông.

Bên cạnh các nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ÔNMT nước lưu vực sông, thì các biện pháp BVMT được triển khai thời gian qua chưa tương xứng với sự gia tăng nhanh chóng về quy mô dân số, sản xuất công nghiệp, các loại hình sản xuất kinh doanh dịch vụ, làng nghề và quá trình đô thị hóa. Bên cạnh đó, nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân chưa nhận thức đầy đủ nghĩa vụ và trách nhiệm BVMT nước; chưa thấy rõ ÔNMT nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước. Một số địa phương chỉ quan tâm đến cấp giấy phép đầu tư mà bỏ qua các thủ tục về môi trường, không dựa trên căn cứ phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường để xem xét phê duyệt dự án đầu tư.

Công tác xã hội hóa về BVMT còn quá chậm, chưa thu hút các nguồn lực cho công tác BVMT nói chung và BVMT nước nói riêng. Cụm công nghiệp tập trung không có hệ thống xử lý nước thải theo quy định. Ngược lại, ở các đô thị lớn, lượng nước thải sinh hoạt đô thị và các cơ sở dịch vụ công, các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp cần được thu gom và đầu tư xử lý chưa được quan tâm đầu tư hoặc có đầu tư nhưng không có nước thải để xử lý, đầu tư không hiệu quả gây lãng phí nguồn vốn đầu tư cho công tác BVMT.

Việc xử lý các cơ sở vi phạm về xả nước thải vượt TCCP tại các địa phương chưa đủ mạnh, chưa kiên quyết đình chỉ hoạt động theo quy định tại Nghị định số 81/2006/NĐ-CP; khung phạt và mức phạt đối với hành vi xả nước thải vượt TCCP còn quá thấp so với kinh phí để đầu tư hệ thống xử lý nước thải nên chưa đủ áp lực buộc các cơ sở phải nỗ lực đầu tư xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường.

Giải pháp để giảm thiểu ÔNMT lưu vực sông

Để từng bước giảm thiểu và tiến tới khống chế sự gia tăng tình trạng ÔNMT nước, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp sau:

Hạn chế khai thác rừng đầu nguồn, tăng cường đầu tư phát triển các loại rừng trồng để tăng độ che phủ rừng, đảm bảo điều kiện tốt nhất để điều tiết dòng chảy trên các lưu vực sông.

Triển khai điều tra tổng thể để thống kê đánh giá đầy đủ hiện trạng các nguồn thải gây ÔNMT nước và mức độ ô nhiễm trên từng lưu vực. Xây dựng hệ thống quan trắc môi trường đủ năng lực để quan trắc, theo dõi thường xuyên liên tục diễn biến ô nhiễm theo không gian và thời gian trên từng lưu vực; trên cơ sở đó, đề xuất phương án xử lý từng nội dung cụ thể từng bước khống chế và giảm dần các phát thải làm gia tăng ÔNMT nước.

Đẩy nhanh tiến trình xã hội hóa công tác BVMT, huy động mọi nguồn lực cho công tác BVMT nói chung và môi trường nước nói riêng. Cần có phương án thu gom, xử lý triệt để nước thải sinh hoạt đô thị và khu dân cư trước khi xả ra sông. Cần xem xét ban hành quy định thu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt căn cứ trên lượng nước sử dụng của các tổ chức cá nhân…

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính và triển khai biện pháp mạnh nhằm buộc các cơ sở xả nước thải gây ô nhiễm nghiêm trọng phải đầu tư xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường. Kiên quyết đình chỉ, cấm hoạt động, buộc di dời các cơ sở gây ÔNMT nghiêm trọng hoặc cố tình không chịu đầu tư xử lý ô nhiễm đến vị trí xa khu dân cư và phù hợp với sức chịu tải của môi trường.

Đẩy mạnh sự phối hợp, hỗ trợ của các bộ, ngành trung ương và sự phối kết hợp của UBND các tỉnh thuộc lưu vực sông.

Cùng với hoạt động điều tra, đánh giá tổng thể, tổng hợp đầy đủ nguyên nhân để kiểm soát có hiệu quả các nguồn gây ÔNMT nước lưu vực sông, việc triển khai thu gom, xử lý nước thải phát sinh trên các lưu vực ngay từ nguồn thải chắc chắn sẽ là biện pháp hữu hiệu để từng bước khống chế và giảm dần áp lực ÔNMT nước các lưu vực sông do nước thải gây ra, góp phần quan trọng cho mục tiêu phát triển bền vững đất nước, làm "sống lại" dòng sông sắp qua đời./.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.