Xây dựng thế trận kết hợp kinh tế với quốc phòng – an ninh để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển.
Thực tiễn lịch sử Việt Nam cho thấy, ngay từ rất sớm, vấn đề kết hợp kinh tế quốc phòng - an ninh đã được cha ông chúng ta quán triệt thực hiện, đồng thời được coi là quy luật trong quá trình tồn tại phát triển của dân tộc. Thời Lý - Trần - Lê, một phần nhờ vận dụng chính sách “ Ngụ binh ư nông” (Chính sách thể hiện rõ tư tưởng kết hợp kinh tế với quốc phòng), mà đất nước thịnh vượng, đủ sức đánh bại các thế lực ngoại xâm hùng mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Kế tục truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước, trên cơ sở kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng mà ông cha ta đã thực hiện, thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng đã đề ra chủ trương kết hợp phát triển kinh tế gắn với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, đồng thời coi đó là một chủ trương chiến lược của thời kì CNH, HĐH đất nước, là nội dung quan trọng của chiến lược xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Trên mặt trận biển, đảo, vấn đề phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa cho phép chúng ta phát huy, khai thác tốt mọi tiềm năng to lớn của vùng biển, đảo đất nước, vừa đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển. Nghị quyết đại hội VII của Đảng nêu bật: “Các tỉnh ven biển phát huy thuận lợi mở cửa ra bên ngoài, điều chỉnh phương hướng sản xuất và xây dựng thích nghi với điều kiện bất lợi về thiên tai, phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng và an ninh”. Nghị quyết 03 của Bộ chính trị (5 - 1993), chỉ rõ: “ Vị trí và đặc điểm địa lý của nước ta cùng với bối cảnh phức tạp trong vùng vừa tạo điều kiện, vừa đòi hỏi chúng ta đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và môi trường sinh thái biển, phấn đấu trở thành một nước mạnh về kinh tế biển”. Trên tinh thần đó, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc X (4 - 2006) tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh: “Phát triển mạnh kinh tế biển vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm với những ngành có lợi thế so sánh để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế”. Chủ trương đúng đắn đó của Đảng đã nhanh tróng đi vào thực tế. Trên vùng biển đảo giàu có của Tổ quốc, vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng - anh ninh đã được thực hiện một cách nghiêm túc, chặt chẽ, có hiệu quả, góp phần hình thành thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo đất nước.
Hiện nay, gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình cách mạng mới, đòi hỏi chúng ta phải không ngừng xây dựng và củng cố vững chắc thế trận “kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh”trên biển.
Thế trận “kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh” trên biển được xây dựng trên cơ sở sự bố trí hài hòa giữa các lực lượng, các cơ sở vật chất - kỹ thuật, các ngành kinh tế biển với quốc phòng - an ninh trên biển và ven biển theo một quy hoạch tổng thể, đặt dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng và Nhà nước trên toàn quốc, cũng như ở từng vùng, từng địa phương, nhằm tạo sự hỗ trợ lẫn nhau giữa kinh tế và quốc phòng – an ninh, đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững của kinh tế biển đồng thời tăng cường được sức mạnh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh trên biển.
Thế trận “kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh”trên biển, nằm trong thế trận xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trên cả nước. Về không gian thế trận “kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh”trên biển, phải gắn kết chặt chẽ giữa biển, đảo và lãnh thổ ven biển.
Thế trận “kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh”trên biển, phải dựa vào các vùng kinh tế, trước hết là các vùng kinh tế trọng điểm đã được qui hoạch, để thực hiện kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh và quốc phòng - an ninh với kinh tế trong các kế hoạch phát triển vùng.
Xây dựng thế trận “kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh” trên biển, trong tình hình hiện nay, chúng ta cần tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:
Một là, hoàn thiện hệ thống các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách về biển, là một việc làm cần thiết và cấp bách trong xây dựng thế trận kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh trên biển. Đó là một trong những nhiệm vụ then chốt cần đột phá, phải có chính sách nhằm khuyến khích mọi thành phần kinh tế vươn ra khai thác biển xa, để kết hợp sản xuất với làm chủ vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Tổ quốc; khuyến khích cán bộ, viên chức nhà nước làm việc trên các đảo xa; khuyến khích việc di dân từ đất liền ra đảo sinh sống để phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường quốc phòng - an ninh trên đảo…
Hiện nay, ở vùng ven biển nước ta đang xuất hiện ngày càng nhiều cơ sở kinh tế thuộc thành phần kinh tế tư bản tư nhân và thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Điều đó đòi hỏi chúng ta cần phải có hệ thống cơ chế, chính sách cụ thể và sớm hoàn chỉnh chiến lược quốc phòng và chiến lược an ninh quốc gia, phù hợp với tình hình mới, phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Hai là, xây dựng các khu vực kinh tế - quốc phòng - an ninh và quốc phòng - an ninh - kinh tế trên biển và ven biển.
Trong quy hoạch các vùng kinh tế, các khu công nghiệp, các khu kinh tế trọng điểm ở ven biển, cần kết hợp hài hòa giữa lợi ích kinh tế với bảo đảm quốc phòng - an ninh.Trong bố trí các cơ sở vật chất - kỹ thuật, cũng như trong xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng (đường xá, bến cảng, sân bay) cần phải chú ý nhằm vừa phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội, vừa sử dụng được cho quốc phòng - an ninh khi cần thiết; cần kết hợp chặt chẽ việc phát triển các đô thị, khu kinh tế, gắn với viếc xây dựng các khu vực phòng thủ ở các tỉnh, thành ven biển và các huyện đảo.
Trên biển, cần xác định các vùng biển trọng điểm về quốc phòng - an ninh, kết hợp với các vùng kinh tế ở ven biển. Coi các vùng kinh tế ở ven biển là căn cứ hậu phương trực tiếp của các vùng biển trọng điểm, bảo đảm khi cần thiết có thể huy động nguồn lực tại chỗ, đáp ứng yêu cầu xử lý tình huống trên biển, đảo trong thời bình và cả khi chiển tranh xảy ra.
Hệ thống đảo có tầm quan trọng đặc biệt đối với kinh tế biển, cho nên cần được xây dựng thành những căn cứ vững chắc để tiến ra khai thác và hoạt động ở biển xa và là tuyến phòng thủ bảo vệ đất liền. Đảng, Nhà nước cần có chính sách đầu tư thích đáng cho xây dựng cơ sở hạ tầng trên các đảo, phục vụ kinh tế và quốc phòng – an ninh. Thực hiện tốt việc đưa dân từ đất liền ra đảo sinh sống để phát triển kinh tế biển. đồng thời xây dựng lực lượng vũ trang tại chỗ.
Ba là, bồi dưỡng nguồn nhân lực và nâng cao trình độ dân trí cho cư dân vùng ven biển, hải đảo.
Hiện nay cả nước ta có gần 50% dân só đang sinh sống tại 28 tỉnh, thành ven biển, trong đó số dân trực tiếp sống bằng nghề biển chiếm vào khoảng trên 10%. Lực lượng cư dân trực tiếp sống bằng nghề trên biển đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo đất nước. Đó là một trong những lực lượng chính khai thác mọi tiềm năng to lớn của biển, đồng thời cũng là lực lượng tại chỗ đông đảo, góp phần vào nhiệm vụ quốc phòng – an ninh bảo vệ trật tự an ninh trên biển khi có tình huống bất trắc xảy ra. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy cư dân các vùng nông thôn ven biển, hải đảo, nhất là cư dân ngư nghiệp, đa số có trình độ học vấn thấp (tỷ lệ mù chữ chiếm 20%), đời sống còn nghèo nàn, khó khăn, lạc hậu. Đó là những nhân tố có tác động không nhỏ, ảnh hưởng xấu đến việc phát triển kinh tế biển và nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh trên biển của nước ta. Vì vậy, việc bồi dưỡng nguồn nhân lực, nâng cao trình độ dân trí cho cư dân vùng ven biển, hải đảo, là một việc làm cấp thiết đối với chúng ta.








