Xây dựng hệ thống thuật ngữ và danh pháp hoá học Việt Nam (phần 5)
VI. Nguyên tắc xây dựng hệ thống danh pháp hoá học Việt Nam
Nguyên tắc:Danh pháp hoá học Việt Nam được xây dựng trên cơ sở của danh pháp hoá học IUPAC. trong đó:
- Các thuật ngữ cơ sở cũng như các thuật ngữ dẫn xuất được phiên chuyển từ thuật ngữ gốc (Anh, Pháp) sang thuật ngữ diễn đạt bằng các âm vận quốc ngữ.
- Các thành phần của tên hệ thống bao gồm các thành phần quy định bởi danh pháp IUPAC và cũng được đọc theo thứ tự quy định bởi danh pháp IUPAC.
Các thuật ngữ cơ sở:
-Tên các nguyên tố hoá học
-Tên các hợp chất hữu cơ cơ sở (benzen, butan…)
Các thuật ngữ dẫn xuất:
-Các phối tử, các nhóm thế
-Tên các nhóm âm điện chứa nguyên tử trung tâm
-Tên các gốc
Các thành phần khác:
-Các tiền tố nhân
-Các số chỉ vị trí
-Số oxi hoá
Ví dụ 1: K [PF 2O 2]
IUPAC Potassium difluorodioxophosphate
Việt kali đifluorodioxophotphat
Ví dụ 2: K 3[Fe(CN) 6]
IUPAC Potassium hexacyanoferrate (III)
Việt kali hexaxianoferate (III)
Ví dụ 3: K 4[Ni(C 2C 6H 5) 4]
IUPAC Potassium tetrakis (phenylethynyl) niccolate (0)
Việt kali tetrakis (phenylethynyl) nicolat
Ví dụ 4: IUPAC 2.2.3 - trimetylbutan
Việt 2.2.3 - trimetylbutan
Ví dụ 5: P 4S 3
IUPAC tetraphosphorus trisulfide
Việt tetraphotpho trisunfiđe
Hậu tố ua (ide) sử dụng rất nhiều, đối với các hợp chất ion cũng như các hợp chất cộng hoá trị, đối với các hợp chất hai nguyên tố cũng như hợp chất nhiều nguyên tố. Vì vậy, nếu theo IUPAC thì nên đổi ua thành ide. Có hai cách viết hoặc là ide (giữ chữ, đọc là ize) hay là iđe (giữ âm). Viết theo cách thứ hai thì hợp lý hơn.
Hậu tố ate cũng được sử dụng rất nhiều, nên rút gọn là at. Các khái niệm sunfat, photphat,… trước đây là tên của các anion một số oxit axit đặc biệt (SO 4--, PO 4---) thì nay được coi là tên chung của các nhóm âm điện chứa nguyên tử trung tâm S hay P không phụ thuộc vào trạng thái oxi hoá của chúng cũng như không phụ thuộc vào số và bản chất các phối tử vô cơ hay hữu cơ.
Ví dụ: Na 2[SO 3] - đinatri trioxosunfat
K[PtCl 2(NH)O] - kali đicloroimiđooxophotphat
Các tên thường như natri sunfat, natri sunfit được coi là tên viết tắt của một số tên hệ thống…
NaCl, CaO, người Pháp đọc là cholorure de sodium, oxyde de calcium thì nay đọc thống nhất là natri cloridde, canxi oxiđe.
Cách viết này hoàn toàn có tính chất quy ước theo danh pháp không liên quan đến ngữ âm học nên không sợ có sự vi phạm đến ngữ pháp quốc ngữ.
Bảng tên các nguyên tố hoá học.











