Xây dựng hệ thống thuật ngữ và danh pháp hoá học Việt Nam (phần 4)
V. Nguyên tắc chung xây dựng các thuật ngữ hoá học Việt Nam
Ta đã xét các phương pháp xây dựng thuật ngữ cho các loại thuật ngữ khác nhau (chi tiết xem mục III số 8 (68) - 2007).
Dưới đây ta xét các nguyên tắc chung xây dựng các thuật ngữ hoá học Việt Nam
Nguyên tắc 1: Các thuật ngữ liên quan đến tên các chất hoá học được xây dựng bằng phương pháp phiên chuyển từ thuật ngữ gốc với âm vận Anh, Pháp sang thuật ngữ diễn đạt bằng âm vận quốc ngữ. Ngoài yêu cầu về âm vận quốc ngữ (tiêu chuẩn chính), các thuật ngữ phiên chuyển cần có dạng gần giống thuật ngữ gốc về chữ hay về âm (tiêu chuẩn thứ yếu).
Các yêu cầu này sẽ đạt được nếu thuật ngữ được phiên chuyển theo đúng nghĩa của nó: Thêm bớt hay thay một vài chữ cái trong thuật ngữ gốc sao cho các âm vận của ngôn ngữ gốc được chuyển sang các âm vận quốc ngữ. Vì chỉ thay đổi một vài chữ cái nên thuật ngữ phiên chuyển có dạng gần giống thuật ngữ gốc.
Trong hai yêu cầu trên, yêu cầu chính phải được bảo đảm một cách tuyệt đối nếu không phải là các ngoại lệ được tóm tắt trong Các trường hợp vi phạm nguyên tắc ngữ âm học Việt Nam giới hạn sử dụng trong danh pháp hoá học(xem số 8 – 2007, tr 9, cột 1).
Cần tránh các trường hợp:
- Sao chép nguyên bản thuật ngữ gốc khi âm vận không là âm vận quốc ngữ.
Ví dụ: acid, aceton, phospho, hydrogen,…
- Âu hoá các âm vận quốc ngữ
Ví dụ: ci thành si (ci tình), ce thành xe (ce đạp)…
- Đưa các ký hiệu lạ thay đổi chữ cái của quốc ngữ.
Ví dụ: c,c = s, s, s = x
- Chuyển thuật ngữ đã có sẵn âm vận quốc ngữ sang từ cụt, không giống một thuật ngữ của bất cứ nước. nào.
Ví dụ: glucose thành glucoz, amylase thành amylaz (học sinh sẽ đọt là glucogiét, amilagiét).
(Ngược lại, khi gặp âm vận cụt (tiếng Anh) thì có thể thêm e để tạo vần như tiếng Pháp, ví dụ amid thành amiđe, azid thành aziđe).
- Nếu thuật ngữ có một nội dung khoa học xác định mà đã có thuật ngữ phiên dịch rồi thì cần sử dụng thuật ngữ phiên dịch chứ không phiên chuyển hay sao chép nguyên bản thuật ngữ gốc”
Ví dụ: nucleophil = ái nhân, không đổi ngược là nucleophin, electron cần dùng thuật ngữ đã có là điện tử.
Đối với tên các nguyên tố hoá học còn có nguyên tắc 2 và 3 sau đây (chi tiết xem IV)
Nguyên tắc 2:
- Chữ viết tên các nguyên tố phải chứa các chữ cái có trong ký hiệu.
- Chữ cái thứ nhất của tên nguyên tố phải trùng với chữ cái đầu của ký hiệu.
- Tên nguyên tố phải có một chữ cái thứ hai trùng với chữ cái thứ hai (nếu có) của ký hiệu.
Nguyên tắc 3:
Tên nguyên tố hoá học cần được rút gọn
a. Thống nhất bỏ âm vận um trong thuật ngữ gốc (nếu có) trừ các trường hợp sau: Ký hiệu có m: Curium (Cm) thành Curium; Thulium (Tm) thành Tulium.
b. Cần xét giới hạn của sự rút gọn dựa vào các thuật ngữ dẫn xuất quen thuộc, quy định theo danh pháp.
Đối với các thuật ngữ quá ngắn (do rút gọn quá giới hạn) thì cần thêm âm vận xi, trong đó xi, trong đó x là phụ âm tạo vần với hậu tố của thuật ngữ dẫn xuất. Ví dụ clo là clori.
Có hai cách giải quyết:
(1) Tên mới là tên chính, tên cũ là tên phụ viết trong ngoặc (giống như việc đổi tên các đường phố, có 2 biển, tên mới và tên cũ)
(2) Tên cũ là tên chính, tên mới là tên phụ viết trong ngoặc.
Đối với các phi kim và bán kim loại quan trọng như F, Cl, I, N, B thì nên theo cách (1), đối với trường hợp khác thì nên theo cách (2).
c. Đối với các nguyên tố đã có tên tiếng Việt truyền thống thì sử dụng tên tiếng Việt nhưng phải ghi trong ngoặc tên gốc Latin đã được Việt hoá.
Ví dụ: Sắt (feri), Chì (plumbi)…
Nguyên tắc 4: Trong trường hợp thuật ngữ không đơn thuần chỉ là tên gọi các chất hoá học mà có một nội dung một ý nghĩa xác định thì thuật ngữ cần được xây dựng bằng phương pháp phiên dịch. Thuật ngữ phiên dịch phải phản ánh chính xác nội dung chính của thuật ngữ hay thuật ngữ gốc và phải có tính đơn nghĩa.
Ví dụ: electron điện tử (hạt mang điện)
Liaison liên kết (nối liền)
Các từ ngữ có thể là Hán - Việt hay thuần Việt (xem chi tiết, xem III – 2, III – 4)
+ Nếu thuật ngữ là thuần Việt, đã quen sử dụng mà đã đạt được các yêu cầu nêu ở trên thì nên sử dụng thuật ngữ thuần Việt đó.
Ví dụ: aromatic = thơm (đúng nghĩa) chỉ nên đổi thành hương phương nếu tác giả chứng minh được hương phương = tính bền.
+ Ngược lại, nếu thuật ngữ Hán - Việt đã quen sử dụng và đã đạt được yêu cầu thì không đổi thành thuần Việt (một cách tương tự: độc lập: đứng một; du kích: đánh chơi (ví dụ của Hồ Chủ tịch).
Ví dụ: liaison = liên kết không đổi thành nối (liên kết vừa có thể là danh từ, liên kết đơn, đôi, vừa có thể là động từ: O liên kết với H).
+ Nếu thuật ngữ là thuần Việt hay Hán - Việt đã quen sử dụng thì không nên lại đổi thành tiếng Âu.
Ví dụ: electpon = điện tử (không đổi lại thành electron)
+ Các thuật ngữ alcool, alcohol tương đương với thuật ngữ rượu vẫn được sử dụng rộng rãi trong các sách Pháp và Anh với vai trò là các thuật ngữ không hệ thống, vì vậy, thuật ngữ rượu cũng cần sử dụng trong các trường hợp tương ứng, không tự tiện đổi thành ancol. Một cách tương tự, các thuật ngữ lân, đạm (phân lân, phân đạm, phổ huỳnh quang, phổ lân quang) vẫn cần được sử dụng trong các sách hoá học.
Các thuật ngữ phiên chuyển (oxi, hydro) có nhược điểm là không nói lên một ý nghĩa gì cả nên khi muốn nói đến vai trò duy trì sự sống của oxi thì người ta nhắc đến thuật ngữ dưỡng khí, khi muốn nói đến tính nhẹ của hyđro thì người ta nhắc đến thuật ngữ khinh khí…
Vì vậy, ta không nên chỉ nói đến các thuật ngữ phiên chuyển (Âu hoá) mà để các thuật ngữ Việt Nam quá ít ỏi, bị mai một một cách đáng tiếc.
Nguyên tắc 5: Đối với các từ ngữ có tính chất như là những ký hiệu quy ước quốc tế thì cần giữ nguyên dạng chữ (kể cả chữ nghiêng, dấu nối, nếu có).
Ví dụ: Các phụ tố nhân: mono, đi, tri, tetra, penta, hexa, hepta, octa, nona, đeca, đođeca, …bis, tris, tetrakis, pentakis…
Các phụ tố cấu trúc: cis-, trans-, sym-…
Các phụ tố vị trú: ortho, meta, para…
Một số thuật ngữ riêng rẽ:
Trong tên các gốc ta viết là etyl, axetyl (y dài) thì trong các tên tương ứng ta cũng nên sử dụng y. Ví dụ etylen, axetylen..
Các thuật ngữ glucose, fructose, cũng như các men amylase có lẽ ta nên viết chữ gốc Pháp vì không vi phạm âm vận quốc ngữ.
Nguồn: Hoá học & Ứng dụng, 10 - 2007, tr 9








