Xây dựng hệ thống thuật ngữ và danh pháp hoá học Việt Nam (phần 3)
IV. Nguyên tắc xây dựng thuật ngữ Việt Nam chỉ tên các nguyên tố hoá học
Nguyên tố hoá học là thành phần cấu trúc của tất cả các hợp chất vô cơ cũng như hữu cơ.
Vì vậy, tên của các nguyên tố hoá học là các thuật ngữ cơ sở liên quan đến tên của tất cả các hợp chất hoá học. Do đó, việc xây dựng thuật ngữ chỉ tên các nguyên tố hoá học giữ một vị trí cơ bản.
Tên của các nguyên tố hoá học được xây dựng dựa trên một số nguyên tắc sau đây:
1. Tên của các nguyên tố hoá học thuộc loại thuật ngữ phiên chuyển nên tên của các nguyên tố hoá học phải thoả mãn hai tiêu chuẩn sau:
a) Trừ một số trường hợp ngoại lệ (tóm tắt ở phần III.1), tên của các nguyên tố hoá học phải được diễn ra bằng các âm vận quốc ngữ.
b) Tên của các nguyên tố hoá học cần có dạng gần giống dạng thuật ngữ gốc (Latinh hay Anh, Pháp) về chữ hay âm.
Vì là thuật ngữ hoá học Việt Nam nên yêu cầu (a) là yêu cầu chính, yêu cầu (b) không thuộc vấn đề về nguyên tắc nên chỉ là yêu cầu phụ.
Xuất phát từ thuật ngữ gốc, bằng cách thêm, bớt, thay đổi một vài chữ cái trong thuật ngữ gốc để chuyển âm vận ngôn ngữ gốc sang âm vận quốc ngữ.
Trên thực tế, vì chỉ cần thay đổi một hay hai chữ cái nên thuật ngữ thu được có dạng gần giống dạng thuật ngữ gốc hoặc là về chữ, về âm hay cả hai, chữ và âm (trong các ví dụ dưới dây, chữ viết trong ngoặc đơn là chữ được đơn giản hoá).
Ví dụ: Actini (um) ® Actini; giữ chữ
Bari(um) ® Bari ; giữ chữ
Indi (um) ® Indi; giữ chữ
Heli (um) ® Heli; giữ chữ
Kali (um) ® Kali; giữ chữ
Europi (um) ® Europi; giữ chữ
Curi (um) ® Curi; giữ chữ
Carbon ® Cacbon; phiên âm (r thành c)
Calci (um) ® Canxi; phiên âm (l thành n, c thành x)
Bismuth ® Bitmut; phiên âm (s thành t, bỏ h)
Astatin (e) ® Atatin; gần giống âm và chữ (bỏ s)
Americi (um) ® Amerixi; gần giống âm và chữ (c thành x)
Berkeli (um) ® Bekeli; gần giống âm và chữ (bỏ r)
2. Các nguyên tố hoá học có các ký hiệu liên quan đến công thức hoá học, phương trình phản ứng hoá học. Vì ký hiệu là các quy ước quốc tế, bất biến nên không được phép thay đổi ký hiệu (ví dụ Ar thành A)
Ký hiệu nguyên tố phải liên hệ chặt chẽ đến tên nguyên tố, đó là tất yếu.
Vì ký hiệu là chữ viết tắt của tên nguyên tố (thường gồm 2 chữ cái) nên ký hiệu các nguyên tố được quy định chặt chẽ theo nguyên tắc sau:
- Chữ cái đầu của các ký hiệu (chữ lớn) là chữ cái đầu tiên của nguyên tố.
- Chữ cái thứ hai (chữ nhỏ) là một chữ cái bất kỳ khác trong tên nguyên tố.
- Các ký hiệu của các nguyên tố khác nhau phải khác nhau (vì vậy, tránh nhầm lẫn với Cu (đồng), nguyên tố Curium được ký hiệu Cm).
Công việc của chúng ta là ngược lại, từ ký hiệu đã có sẵn, xây dựng thuật ngữ hoá học chỉ tên nguyên tố phù hợp với ký hiệu. Vì vậy, ta cũng phải theo đúng nguyên tắc nói trên nhưng phát biểu ngược lại.
- Chữ viết tên nguyên tố phải chứa các chữ cái có trong ký hiệu.
- Chữ cái thứ nhất của tên nguyên tố phải trùng với chữ cái đầu tiên của ký hiệu.
- Tên nguyên tố phải có một chữ cái thứ hai trùng với chữ cái thứ hai (nếu có) của ký hiệu.
Ví dụ: Ứng với ký hiệu Cd không thể là Catmi; Os không thể là Otmi; Ar không thể là Agon; Cs không thể là Xesi; Ce không thể là Xeri.
…
Đối với tên gốc của các nguyên tố thì nguyên tắc trên được tuân thủ một cách tuyệt đối 100% kể cả nguyên tố mới được khám phá chỉ có đời sống khoảng 1/1.000 giây.
Vì tuân thủ nguyên tắc đó nên ta buộc phải chấp nhận nguyên tố K là Kali mà không là Cali .
Cũng chính vì lý do đó mà GS Cát không đặt tên nguyên tố Cd là Catmi, mà là Cađimi; Er là Ecbi là là Eribi; Hf là Hapni mà là Hafini; Zr là Xiecconi mà là Ziriconi,… (đưa thêm i vào tên nguyên tố để bảo toàn âm vận quốc ngữ và để giữ được các chữ d, r, f, r có trong ký hiệu).
Ta cần nhớ rằng, tên nguyên tố chỉ cần có dạng gần giống tên gốc, sự thêm bớt, đổi một vài chữ cái hoàn toàn không vi phạm một nguyên tắc nào khác nếu không vi phạm âm vận tiếng Việt và không phải là trường hợp ngoại lệ như đã nói ở trên.
Theo bản dự thảo của GS. Cát soạn năm 1996 (do TS. Đỗ Tất Hiển mới cung cấp, chuẩn bị hội thảo nhưng chưa hội thảo) thì ngoài nguyên tố Agon, có lẽ do nhầm lẫn ký hiệu (Ar thành A), chỉ còn lại hai nguyên tố Cs và Ce là còn vi phạm nguyên tắc nói trên.
Ta cũng cần lưu ý rằng, đến nay ta vẫn chưa có một cuộc hội thảo chính thức với văn bản có tính pháp quy, quy định các thuật ngữ hoá học. Vì vậy, sự đặt tên các nguyên tố là tuỳ tiện, vô nguyên tắc (mới chỉ là các ví dụ mà GS. Ngọc Sơn dẫn chứng thì số nguyên tố được đặt tên không theo nguyên tắc này đã là 10 nhưng theo bảng tuần hoàn, in ấn trên các giáo trình thì số đó phải được nhân đôi và phân tán). Vì vậy, khái niệm “kế thừa” hay “quen dùng” cũng chỉ có nghĩa là kế thừa và quen dùng với các thuật ngữ đặt tên một cách tuỳ tiện và vô nguyên tắc đó. Với văn bản có tính pháp quy thì các vấn đề thuộc về nguyên tắc cần phải nghiêm khắc tuân thủ. Tên của hai nguyên tố còn lại có ký hiệu là Cs và Ce cần phải được quy định một cách dứt điểm trên cơ sở của các nguyên tắc nói trên.
Ứng với ký hiệu Cs, nguyên tố có thể đặt tên là Csesi. Ứng với ký hiệu Ce, nguyên tố có thể đặt tên là Cseri.
Mỗi thuật ngữ gốc chỉ cần thêm một chữ s mà nguyên tắc chung được bảo toàn và các thuật ngữ phiên chuyển vẫn có dạng gần giống thuật ngữ gốc về chữ cũng như âm.
3. Như đã nói ở trên, tên các nguyên tố hoá học là các thuật ngữ cơ sở liên quan đến tên của tất cả các hợp chất và trong rất nhiều trường hợp có mặt nhiều lần trong cùng một tên hệ thống của các hợp chất vô cơ. Vì vậy, tên của các nguyên tố cần phải được rút gọn hay được đơn giản hoá nhưng phải xét giới hạn của sự rút gọn.
Có ba trường hợp cần xét:
a) Thống nhất bỏ hậu tố um (nếu có) trừ các trường hợp sau vì ký hiệu có m.
Curium (Cm) thành Curium; Thulium (Tm) thành Tulium. Ngoài ra, cũng không bỏ um đối với trường hợp Zincum - Kẽm (Zincum).
Đối với 2 nguyên tố Praseodymium, Protactinium có ý kiến cho là có thể bỏ cả mi và ni. Tuy nhiên, hai nguyên tố này ít được nói đến và nếu bỏ thêm 2 âm vận đó thì lại cần phải thêm một quy tắc bổ sung, phức tạp, không cần thiết.
Sau khi bỏ um thì tuyệt đại đa số các nguyên tố hoá học được đặc trưng bằng chữ i ở cuối thuật ngữ.
Actinium thành Actini; Barium thành Bari ; Helium thành Heli…
Tuy nhiên cũng có khoảng 25 trường hợp ngoại lệ (không có i). Các tên nguyên tố hoá học gốc được đặc trưng bằng hậu tố um nhưng đều có ngoại lệ: tên Latinh có khoảng 10 trường hợp (ví dụ Phosphorus, Sulfur,…) tên tiếng anh có khoảng 32 trường hợp (hydrogen, oxygen, nikel…)
b) Tên của các nguyên tố, đặc biệt là các phi kim, có liên quan đến các thuật ngữ dẫn xuất quy định theo danh pháp (tên ion âm, tên ion phức, tên phối tử, tên gốc). Vì vậy, ta cần xét giới hạn của sự rút gọn.
Xét một số nguyên tố sau đây:
Hyđ rogen (hyđro) hyđro, hyđriđe
O xygen (oxi) oxiđe, oxo…
Fluo rine (fluo) fluoriđe, fluoro
Chlo rine (clo) cloriđe, cloro, cloryl, clorosyl, clorat, clorit
Io dine (lot) iođiđe, iođo, iođat, iođoryl, iođorosyl
Ni trogen (nitơ) nitriđe, nitrio, nitro, notrat, nitrosyl
Bo ron (Bo) borat, boran, boriđe, borio…
Ta thấy tên của nguyên tố phải chứa một phụ âm (gạch dưới) ở cuối hay gần cuối để tạo vần với các hậu tố thành các thuật ngữ dẫn xuất. Từ các nguyên tố nói trên ta thấy:
- Các thuật ngữ rút gọn như hyđro, oxi là đủ, đáp ứng được yêu cầu trên. Sự đổi lại thành hyđrogen, oxigen là không cần thiết. Vả lại, âm vận genkhông có trong hệ âm vận quốc ngữ (đọc như thế nào).
- Các thuật ngữ rút gọn như fluo, clo, iot, nitơ, bơ là quá ngắn, không đạt được yêu cầu trên. Đối với các trường hợp đặc biệt quan trọng này có hai cách giải quyết
(1) đổi hẳn lại từ, từ mới là chính, từ cũ ghi trong ngoặc fluori (fluo); clori (clo); iođi (iot); nitri (nitơ); bori (bo)
(2) từ cũ vẫn là chính, từ mới ghi trong ngoặc fluo (fluori); clo (clori); iot (iođi); nitơ (nitri); bo (bori).
Cách (1) tích cực hơn, mạnh dạn hơn, nghĩ đến tương lai lâu dài. Cách (2) mềm hơn, co quán tính nhất thời.
+ Thuật ngữ magnesium (magie) có liên quan đến tên gốc nguyên tố (element radical names) là magnesio, vì vậy, cũng có thể viết theo cách (2): magie (magơnesi).
+ Thuật ngữ photpho liên quan đến photphat, photphide(thường dùng) và photphorio (rất ít dùng) nên có thể ghi thành photpho (photphori).
+ Thuật ngữ lưu huỳnh liên quan đến sunfide, sunfat (thường dùng) và sunfurio nhưng thường được thay bằng thio nên có thể ghi là lưu huỳnh (sunfu).
+ Nguyên tố Ta có tên Latin là Tantalum, vì liên quan đến Tantalate nên cần đổi tên là Tantali.
+ Thuật ngữ azot chỉ liên quan đến ion hay nhóm N 3nên không cần ghi thêm vào tên của N.
+ Thuật ngữ nikel (đang dùng) có tên gốc Latin là niccolum, liên quan đến niccolate, vì vậy cần ghi nilen (nicoli).
+ Thuật ngữ coban, phiên chuyển từ cabalt có thuật ngữ dẫn xuất là cobaltate, vì vậy cần ghi: coban (cobanti).
+ Thuật ngữ hiđro (đang dùng) ngành Dược đề nghị sửa thành hyđro. Vì viết hyđro hoàn thoàn không vi phạm ngữ âm học, do đó nên thống nhất là hyđro.
c) Đối với các kim loại đã có tên tiếng Việt thì sử dụng tên tiếng Việt nhưng phải ghi trong ngoặc tên gốc Latin đã được Việt hoá (không ghi cả tên gốc Latin). Điều này liên quan đến các thuật ngữ dẫn xuất: ferat, plumbat, zincat…
Ví dụ: Sắt (Feri); Chì (Plumbi); Kẽm (Zincum)…
Ghi chú:
- Đối với nguyên tố europi, do có liên quan đến ký hiệu Eu nên ta sử dụng âm vận eu. Tuy nhiên, điều này có tính gò ép, vì vậy, trừ trường hợp âm vận này đặc trưng cho một loại chất nào đó, còn trong trường hợp chung nên hạn chế việc sử dụng âm vận này mà nên phiên chuyển thành ơ.
Ví dụ: Deuteri thành đơteri; neutron thành nơtron.
- Xét nguyên tố curium mang tên nhà bác học Curie, ta thấy tên nguyên tố khác tên nhà bác học: bỏ e thêm um. Điều đó có nghĩa là tên các nguyên tố đó cũng có thể là tên phiên chuyển, thêm, bớt thay một vài chữ cái để có thể đọc được.








