Xây dựng hệ thống thuật ngữ và danh pháp hoá học Việt Nam (Phần 2)
III. Các phương pháp xây dựng thuật ngữ hoá học Việt Nam
Phù hợp với tên của đề tài “Xây dựng thuật ngữ hoá học Việt Nam”, các thuật ngữ được xây dựng phải được diễn đạt bằng ngôn ngữ Việt Nam .
Đó là vấn đề thuộc về nguyên tắc mà mọi nước đều tuân thủ. Do sự phát triển muộn của khoa học Việt Nam, do sự khác xa ngôn ngữ của các nước phát triển, để bảo đảm nguyên tắc nói trên và để thuật ngữ có tính quốc tế, việc xây dựng thuật ngữ Việt Nam có thể thực hiện theo hai cách hay hai phương pháp chính: phiên chuyển và phiên dịch.
1. Phương pháp phiên chuyển thuật ngữ từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt,
Trước hết, ta tham khảo cách phiên chuyển thuật ngữ của các nước phát triển Anh, Pháp, Đức có ngôn ngữ rất gần nhau. Bắt đầu, thuật ngữ được đưa ra từ một nước xác định nào đó (liên quan đến phát minh khoa học) rồi các nước láng giềng phiên chuyển thuật ngữ này ra thuật ngữ diễn tả bằng ngôn ngữ nước họ.
Xét thuật ngữ photpho chẳng hạn: tiếng Anh là phosphor us, tiếng Pháp phosphor e, tiếng Đức là phosphor.
Hai thuật ngữ sau có thể coi là các thuật ngữ phiên chuyển từ thuật ngữ thứ nhất (vì trùng với thuật ngữ Latin). Ta dễ dàng nhận thấy:
- Khi phiên chuyển, ngôn ngữ của mỗi nước được bảo toàn một cách tuyệt đối.
- Với mục tiêu bất biến đó, phiên chuyển không có nghĩa là sao chép nguyên dạng mà có thêm, bớt, thay đổi âm tiết hay chữ cái và vì vậy, các thuật ngữ nói trên khác nhau về chữ cũng như về âm.
Xét thêm các ví dụ khác:
Thuật ngữ benzen: (A) Benzen (đọc là benzi:n)
(P) benzèn e
(Đ) benz ol(đọc là benxôl)
Thuật ngữ phân tử: (A) molecule
(P) mol écule
(Đ) mole kul
Thuật ngữ phổ: (A) spectrum
(P) spectr e
(Đ) spe ktrum
Ta thấy ngôn ngữ của mỗi nước không hề bị bẻ cong hay thay đổidù chỉ là một chữ e (đặc điểm của Pháp ngữ), một chữ k (đặc điểm của Đức ngữ) hay một dấu sắc (/) dấu huyền (\) hay dấu (.`). Ta cần học tập nguyên tắc bất biến đó.
Vì IUPAC xuất phát từ tiếng Anh và tiếng Pháp (issued in English and French) được coi là ngôn ngữ chính thức (official languages) nên tiếng Anh và Pháp có thể coi là các tiếng xuất phát khi phiên chuyển (gọi tắt là ngôn ngữ IUPAC).
Do đặc điểm về ngôn ngữ, để thuật ngữ không khác xa thuật ngữ gốc, đối với chúng ta, khái niệm chuyển thuật ngữ từ ngôn ngữ Anh, Pháp sang ngôn Việt Nam được hiểu là sự thêm bớt, thay đổi một số tối thiểu các chữ cái trong thuật ngữ gốc sao cho các âm vận của ngôn ngữ Anh, Pháp chuyển thành các âm vận quốc ngữ.
Vì chỉ có thay đổi một vài chữ cái nên trong trường hợp chung, thuật ngữ phiên chuyển gần giống thuật ngữ gốc về âm cũng như về chữ.
Ví dụ: Astatin (e)®Atatin, bỏ s (bỏ e vì rút gọn).
Americi(um)®Amerixi (chuyển c thành x)
Berkeli(um)®Bekeli (bỏ r)
Trường hợp đổi chữ nhưng âm không đổi được gọi là phiên âm.
Ví dụ: Carbon®cacbon (đổi r thành c)
Calci®Canxi (l®n, c®x)
Bismuth®Bitmut (s®t, bỏ h)
Acid®Axit (c®x, d®t)
Ceton®Xeton (c®x)
Có trường hợp chuyển âm vận nhưng không cần đổi chữ. Trường hợp này có thể được gọi là trường hợp giữ chữ.
Ví dụ: Kali®Kali (đọc là Cali )
Europi®Europi (đọc là E, uropi)
Curium®Curium (đọc là Curium)
Có trường hợp thuật ngữ phiên chuyển trùng với thuật ngữ gốc.
Ví dụ: Actini®Actini; Bari(um)®Bari
Heli(um)®Heli; Indi(um)®Indi
Thực ra, chữ quốc ngữ có mẫu tự La tin là một thuật lợi lớn. Tuy nhiên ta cần nhấn mạnh là yêu cầu chính của phiên chuyển là thuật ngữ phiên chuyển phải là thuật ngữ có âm vận quốc ngữ, nghĩa là Việt, tiếng Việt.
Yêu cầu về giống chữ hay giống âm chỉ là thứ yếu.
Học giả Hoàng Xuân Hãn phiên chuyển hậu tố ure (tiếng Pháp) thành ua, một âm thuần Việt mà không phiên âm thành uya - rơ, hay giữ nguyên gốc ure, đặc biệt không phiên âm là ur (vần ngược). Sáng kiến của GS. Cát đưa thêm i vào Cadimmi, vào Eribi hay bớt chữ cái Chromium thành Crom, Astatin, thành Atatin…. cũng là những cố gắng để bảo toàn yêu cầu chính của từ phiên chuyển. Điều đó thể hiện tính tự chủcủa các học giả tiền bối. Mặc dù có ngôn ngữ rất gần nhau nhưng chưa bao giờ thấy người Anh hay người Pháp lại bẻ cong ngôn ngữ nước họ để có thuật ngữ giống chữ, giống âm hay đồng chất với thuật ngữ nước khác.
Đối với tuyệt đại đa số các ngôn ngữ khác, không có mẫu tự La tin (Arập, Slave, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên…), phương pháp bắt chước chữ hay giữ nguyên dạng chữ hoàn toàn bị loại trừ. Người ta chỉ có một cách duy nhất là phiên âm. Tuy nhiên, người ta cũng không bóp méo, bẻ cong ngôn ngữ nước họ.
Đáng tiếc, trong thế hệ ta, dù chỉ là một số rất nhỏ, lại có “sáng kiến” hoàn toàn ngược lại:
- Bắt chước nguyên bản tiếng Anh: acid, hydrogen, carbon, eter, acetic acid, alkoxid, cái becher, cái buchner, cái erlenmeyer…
- Tạo từ lai Anh - Việt: aciđ, phospho, sulfat,…
- Tạo từ không giống Việt Nam cũng như không giống nước nào khác: glucoz, amilaz, hydrur,…
- Bẻ cong cả chữ cái quốc ngữ, c, s thành x.
Trong khi thầy dạy tiếng Việt dạy học sinh: ga, ghe, go, gie, gien, xi, xe… thì thầy dạy hoá lại bắt ép học sinh đọc ge thành ghe, gen thành ghen, là gien, gec thành ghec, ci thành xi, ce là xe, on là ông hay đổi một từ có vần thành từ cụt (glucose thành glucoz, amilase thành amilaz…) Đó là một nghịch lý. Có từ không phải là từ Việt cũng không phải là từ của bất cứ ngôn ngữ nào khác. Vì vậy, chính cả người Anh cũng không đọc được chứ không nói gì đến học sinh lớp 8.
Với các từ ngữ này còn đâu là tính khoa học, tính quốc tế, tính dân tộc, tính đại chúng, tính sư phạm nữa.
Với các từ ngữ đó thì còn đâu là tiếng Việt, chữ Việt, là thuật ngữ hoá học Việt Nam !
Các sáng kiến cá nhân phiến diện đưa ra hàng loạt các từ ngữ lai căng có tác dụng tiêu cực nhiều hơn là tích cực, làm rối loạn chữ quốc ngữ, tiếng Việt và làm rối loạn chính ngay môn hoá học.
Hiện nay, tiếng Anh là tiếng phổ dụng nhất trong giao dịch quốc tế kể cả trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật. Tuy nhiên, cần lưu ý một thực tế là tiếng Anh rất khó phát âm, khó nói nên người ta thường nói “người Anh viết một đằng, đọc một nẻo”. Cũng chính vì vậy, người ta phải sử dụng các ký tự quốc ngữ (chữ đ cong, chữ c, chữ e lộn ngược) để phiên âm tiếng Anh, mỗi từ chính lại được kèm theo một từ phiên âm bên cạnh. Đối với hầu hết các từ, sự sử dụng chữ quốc ngữ để phiên âm tiếng Anh là không thực hiện được. (các cố gắng bắt chước âm điệu tiếng Anh trong các thuật ngữ hoá học là điều vô nghĩa và không cần thiết).
Mặc dù có những âm họng (on đọc là ông) nhưng sự phiên âm tiếng Pháp bằng chữ quốc ngữ dễ dàng hơn.
Mặt khác, tiếng Anh có nhiều vần ngược hay những từ cụt không có trong âm vận quốc ngữ (ví dụ id), trong khi đó, đối với những âm vận này, tiếng Pháp có thêm e (ide, ví dụ acide) phù hợp với âm vận của nhiều nước khác…
Có lẽ, cũng vì lý do đó mà IUPAC đổi hậu tố id (vần ngược, cụt), thành ide. Điều này phù hợp với âm vận quốc ngữ hơn.
Vì vậy, khi phiên chuyển, sự dựa vào ngôn ngữ chính nào không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà phải dựa vào tương quan khách quangiữa hai ngôn ngữ Việt Nam và hai ngôn ngữ chính là Anh và Pháp. Thuật ngữ Anh và Pháp khác nhau cả về chữ lẫn về âm. Sự bắt chước đồng thời của cả hai thuật ngữ có lẽ đương nhiên là không thực hiện được.
Như đã nói ở trên, sự diễn tả các thuật ngữ hoá học bằng ngôn ngữ Việt Nam, trước hết là phục vụ cho việc học tập hoá học của người Việt Nam và đồng thời là để “một người học muôn người đều biết”, (Trần Quý Cáp, Đông Kinh Nghĩa Thục), phục vụ cho việc nâng cao dân trí cho quảng đại quần chúng. Học tập, theo định nghĩa, không phải chỉ là học tập trên các lớp học mà còn là các phương tiện thông tin đại chúng, học tập trong giao tiếp v.v… Vì vậy, đại chúng không phải chỉ bao gồm các học sinh từ lớp 8 trở lên và môn hóa học không phải là môn học được loại trừ ra khỏi các đối tượng khác.
2. Phương pháp phiên dịch thuật ngữ từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt.
Nếu thuật ngữ hoá học không đơn thuần chỉ là tên gọi các chất hoá học mà có một nội dung, một ý nghĩa khoa học xác định (chủ yếu các thuật ngữ loại II. 4) thì thuật ngữ này thường được phiên dịch.
Học giả Hoàng Xuân Hãn là người đầu tiên viết “Danh từ khoa học”, trong đó hầu hết các thuật ngữ khoa học được xây dựng bằng phương pháp phiên dịch ( rất có thể học giả Hoàng Xuân Hãn đã sử dụng tự điển khoa học - Anh - Hoa hay Pháp - Hoa phiên dịch tiếng Âu ra tiếng Hoa rồi từ tiếng Hoa phiên chuyển thành từ Hán - Việt hay phiên dịch trực tiếp ra từ thuần Việt).
Khi phiên dịch một thuật ngữ ta phải sưu tầm, tìm chọn một từ ngữ Hán - Việt hay thuần Việt phản ánh được nội dung chính hay ý nghĩa chính của thuật ngữ gốc.
Ví dụ: Atom nguyên tử (hạt nguyên vẹn)
Molécule phân tử (hạt phân chia được)
Electron điện tử (hạt mang điện)
Liaison liên kết (nối liền)
Các thuật ngữ phiên dịch không giống thuật ngữ Âu về chữ cũng như về âm nhưng có ưu điểm nổi bật là nói lên được ý nghĩa hay nội dung chính của thuật ngữ gốc.
Các từ ngữ có thể là Hán - Việt hay thuần Việt nhưng đều là ngôn ngữ Việt Nam (không phải là tiếng Hán) và được diễn đạt bằng chữ quốc ngữ. Đó cũng là một ưu điểm nổi bật của thuật ngữ phiên dịch.
Các thuật ngữ phiên dịch, đặc biệt là các thuật ngữ Hán - Việt có những đặc điểm sau đây:
- Thuật ngữ rất ngắn gọn, có khi chỉ là một từ và từ đó có thể kết nối với các thuật ngữ khác tạo thành một loạt các thuật ngữ dẫn xuất.
Ví dụ: Từ thuật ngữ phổ(spectrum, spectre, spectrum) dẫn đến các thuật ngữ khác: quang phổ, khối phổ hồng ngoại, phổ tử ngoại, phổ quay, phổ dao động, phổ điện tử, phổ hàm riêng, phổ trị riêng, v.v…
Từ hoáđược sử dụng như một vĩ từ, phản ánh nội dung của các vĩ từ ization hay isation (A), ation (P). Từ đó dẫn đến hàng loạt các thuật ngữ khác: lai hoá (hybridisation, hybridation), nguyên tử hoá, ion hoá, oxi hoá, từ hoá,…
- Thuật ngữ thường có một nội dung rất súc tích(có khi còn nói lên nội dung của một quá trình hay một phương pháp). Ví dụ: hiệu ứng quan điện (effet photoélectrque) = hiệu ứng phóng ra điện tử tạo nên dòng điện do tác dụng của các quang tử . Trong toán học ta cũng thấy các thuật ngữ tương tự. Ví dụ tích phân (integrale) = tích tụ hay tổng các phần tử vi phân, thể hiện bằng các diện tích vi phân hình chữ nhật hay hình thang, từ đó dẫn đến thuật toán “tích phân số” ứng dụng rộng rãi trong việc tính các tích phân bằng máy tính. Nhiều thuật ngữ Hán - Việt có thể coi là tuyệt đẹp.
Như đã nói ở trên, các thuật ngữ phiên dịch đều là các thuật ngữ tiếng Việt, diễn đạt bằng chữ quốc ngữ. Các thuật ngữ trong “Danh từ khoa học” Hoàng Xuân Hãn đều là những thuật ngữ cơ bản (dễ nhân rộng bằng cách ghép thuật ngữ). Từ đó, các thuật ngữ này được phổ cập và được phát triển một cách rất nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chủ trương “dạy bằng tiếng mẹ đẻ” trong các trường học Việt Nam ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công ( Hoàng Xuân Hãn không phải là Bộ trưởng Giáo dục cho Chính phủ Hồ Chí Minh mà là Bộ trưởng Giáo dục cho Chính phủ Trần Trọng Kim. Cũng chính trong thời gian ngắn ngủi này, với các danh từ khoa học đầu tiên biên soạn được, Hoàng Xuân Hãn đã xây dựng hệ chương trình giáo dục phổ thông (kể cả trung học chuyên khoa) được áp dụng trong thời kỳ đầu Kháng chiến chống Pháp (1950)). Đó là một kỳ tích của Việt Nam .
3. Phương pháp phụ xử lý các trường hợp đặc biệt
Thực ra đây không phải là một phương pháp mà là một biện pháp xử lý các trường hợp ngoại lệ, chủ yếu liên quan đến các ký hiệu bất biến (f, Zn, K) hay các từ ngữ có tính chất là những qui ước quốc tế, (cis, bis….). Trong trường hợp này ta cần giữ nguyên chữ theo danh pháp hay thêm các chữ cái F, Z,…
Ngoài ra, để các thuật ngữ cơ sở, liên quan đến hàng triệu các tên hệ thống như các thuật ngữ chỉ tên các nguyên tố hoá học, không khác xa các thuật ngữ gốc, ta cần sử dụng các biện pháp khác được coi là đơn giản hoá các âm vận Việt hay sự viết tắt các thuật ngữ (Br®Bơ rôm®Brom). Đó là các trường hợp cụ thể sau đây:
a. Viết liền các âm tiết, bỏ dấu thanh (/), bỏ dấu ^, ich viết thành ic.
Trường hợp này có thể coi là sự đơn giản hoá các thuật ngữ hay sự viết tắt chữ quốc ngữ.
Ví dụ: Ac - ti - ni actini
Các - bon cacbon
Ô - xi oxi
Si - lich silic
b 1Phụ âm đầu của thuật ngữ (tên nguyên tố) coi là một âm vận đọc như tên của phụ âm đó.
b 2Trường hợp phụ âm đứng một mình ở giữa thuật ngữ, quy tắc này chỉ áp dụng cho trường hợp hydro, đối với các trường hợp khác, để không vi phạm nguyên tắc ngữ âm học thì phải thêm ở để tạo vần giống như Từ điển Bách khoa(thêm ơ vì đ đọc là đờ, r đọc là rờ,… thêm i thì không có lý do vì không liên quan đến tên của các chữ cái ( thực ra, GS. Cát mới đây mới thêm i còn trước đó là thêm a, thí dụ Aldehyd thành Aladehyđa. Điều này GS. Cù Thành Long biết rất rõ).
Ví dụ: 1. Bơrom®Brom, Cơlo®Clo
2. Argon®Arơgon, Cadmi®Cađơmi
Trường hợp b 1ít gặp, nếu mở rộng cho cả trường hơn b 2thì trường hợp vi phạm đến ngữ âm học là quá lớn.
c. Thêm các chữ cái F, Z W
Ví dụ: (F) Flo, (Zr) Zirơconi, (W) Wonfam
Điều này liên quan đến ký hiệu của các nguyên tố hoá học.
d. Thêm các vần al, ol yl..
Ví dụ: Cacbonyl, Cloryl…
Điều này liên quan đến các gốc, chủ yếu chỉ áp dụng cho tên hệ thống. Đối với các thuật ngữ đứng riêng một mình, nếu tiếng Pháp có e ở cuối thì cũng thêm e, tạo vần, tránh vi phạm nguyên tắc ngữ âm học.
e. Đối với nguyên tố kali, vì ký hiệu là K nên âm vận Ca thay bằng Ka.
Đây là trường hợp vi phạm đến âm vận quốc ngữ. Vì vậy, ngoại lệ này chỉ áp dụng cho trường hợp duy nhất là Kali (K), không mở rộng cho các trường hợp khác vì sự vi phạm không có lý do.
Ví dụ: Ancan không viết là Ankan cho thống nhất với Anken, Ankin (vì đó là chữ quốc ngữ ca, ke, kê, ki, co,….)
f. Viết giống như chữ gốc.
+ Các phụ tố nhân, mono, đi, tri, bis tetrakis…
+ Các phụ tố cấu trúc, cis -, trans -, cyclo -, sym… (chữ viết nghiên có dấu nối).
Chữ quốc ngữ có d, đ ta không được phép viết là d mà đọc là đ, viết một đằng đọc một nẻo. Đó là sự vi phạm thực sự. Vì vậy:
- Chữ d (Âu) cần phiên âm đ ( như cách viết của GS. Trần Quốc Sơn)
Ví dụ: Radi(um) Rađi
Rubidi(um) Rubiđi
Đối với hậu tố ide (Âu) có hai cách: Vẫn viết là ide (giữ chữ nhưng đọc như quốc ngữ (khác âm)) và Phiên âm là iđe (đổi chữ nhưng giữ âm).
Tuy nhiên, sử dụng phương pháp hai thì hợp lý hơn.
Nếu một thuật ngữ có vần cụt, có thể thêm e để tạo vần, giống như IUPAC đã chuyển id thành ide (thí dụ amid thành amiđe, azid thành aziđe)
Các trường hợp ngoại lệ, vi phạm đến ngữ âm học Việt Nam , có tính chất pháp qui. Vì vậy, các trường hợp vi phạm, dù là nặng hay nhẹ, cần phải được hạn chế một cách tuyệt đối nghiêm ngặt, phải được nêu lên một cách cụ thể và tóm tắt thành bảng để tránh sự mở rộng phạm vi vi phạm một cách tuỳ tiện, tràn lan, gây nhiễu cho ngôn ngữ Việt Nam và gây nhiễu cho chính môn hoá học.
Các trường hợp vi phạm nguyên tắc ngữ âm học Việt Nam giới hạn sử dụng trong danh pháp hoá học
a. Viết liền các âm tiết, bỏ dấu thanh, bỏ dấu ^, viết tắt ich thành ic
Ví dụ: Ac-ti-ni®Actini; Các – bon®Cacbon; Ô – xi®Ôxi; Si – lich®Silic
b 1. Phụ âm đầu của thuật ngữ được coi là một âm vận đọc như tên của phụ âm.
Ví dụ: Bơrom®Brom; Cơ – lo®Clo.
b 2. Quy tắc này cũng áp dụng riêng cho trường hợp hyđro có phụ âm đ ở giữa thuật ngữHy-đơ-ro®Hyđro.
c. Có thêm các chữ cái F, Z, W
Ví dụ: (F) Flo, (Zr) Zirơconi; (W) Wonfam
d. Thêm các vần ngược al, ol, yl liên quan đến tên các gốc, các nhóm chức, các phối tử.
Ví dụ: Cacbonyl (CO); Hyđroxyl (OH); Metyl (CH 3)
e. Viết giống quy ước các phối tử
- Các phụ tố nhân, ví dụ tri, tetra, nona, bis, tris, tetrakis,..
- Các phụ tố cấu trúc: cis -, trans -, cyclo-, sym-…
4. Phương pháp áp dụng cho từng loại thuật ngữ.
- Phương pháp phiên chuyển II - 1 được áp dụng chủ yếu cho các thuật ngữ thuộc loại II - 1 (1a, 1b, 1c, 1d).
- Phương pháp phiên chịch II - 2 được áp dụng chủ yếu cho các thuật ngữ thuộc loại II - 4 (a, b, c, d, e).
- Các thuật ngữ thuộc loại II - 3 (a, b) có thể được xây dựng bằng phương pháp phiên chuyển hay bằng phương pháp phiên dịch, tuy nhiên, đối với các thuật ngữ có một nội dung xác định thì nên cố gắng sử dụng phương pháp phiên dịch.
- Các thuật ngữ thuộc loại III - 3 thực ra chỉ là một số ít ỏi các ký hiệu như ký hiệu tên các nguyên tố hoá học, các ký hiệu về đơn vị, các ký hiệu trong toán học (chẳng hạn số) cần được viết đúng theo danh pháp, kể cả chữ nghiêng và các dấu nối còn cách đọc thì sử dụng cách đọc theo quy ước (giống nhưpđọc là pi, cis đọc là xit, trans đọc là tran, cyclo đọc là xiclo….)
Đối với các thuật ngữ có một ý nghĩa khoa học ta nên sử dụng phương pháp phiên dịch.
Ví dụ 1: Các thuật ngữ nucleo phile, electro phileđều có một ý nghĩa xác định, xuất phát từ thuật ngữ sinh vật học, hậu tự philehay phylle =ưa, ái; hậu tự phobe= kị, ghét (hyđro phile= ưa nước; hyđro phobe= kị nước) được sử dụng một cách khá phổ biến trong một số lĩnh vực khác như: bông thấm nước (coton hyđrophile), hoá keo (keo ưa nước, keo kị nước). Vì vậy, ta nên sử dụng thuật ngữ phiên dịch: ái nhân, ái điện tử đã có sẵn hơn là phiên chuyển thành nucleophin, electrophin - một tên lai Âu, lai Việt với hậu tự phin chẳng có một ý nghĩa gì cả và từ đó biến cả thuật ngữ thành một từ câm.
Ví dụ 2: Electron có một ý nghĩa xác định, hạt mang điện, đã được học giả Hoàng Xuân Hãn phiên dịch thành điện tử cùng với các cấu tử khác của hạt nhân ít quan trọng: proton = dương hạch tử, neutron = trung hoà tử. Do vai trò đặc biệt quan trọng của điện tử trong các phản ứng hoá học cũng như trong các quá trình vật lý cũng do được diễn tả bằng tiếng Việt nên thuật ngữ điện tử được sử dụng một cách rộng rãi trong khoa học, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong ngôn ngữ hàng ngày, tại các cửa hàng, cửa hiệu (nhiễu xạ điện tử, kỹ thuật điện tử, kính hiển vi điện tử, máy tính điện tử, dụng cụ điện tử…). Tuy nhiên, từ khoảng 10 năm gần đây, lại có “sáng kiến” thay thuật ngữ phiên dịch thành thuật ngữ tiếng Âu nguyên dạng (đối với học sinh thì là một thuật ngữ câm) vào sách giáo khoa phổ thông gây nhiều khó khăn cho học sinh vì phải học vẹt cả chữ lẫn âm, đặc biệt là các thầy (do truyền miệng mặc dù không biết tiếng Pháp) lại đọc on thành ông.
Trên thực tế, thuật ngữ electron nằm chết trong sách giáo kha, cô lập với thế giới bên ngoài và không ít học sinh không liên hiệ được thuật ngữ electron trong sách giáo khoa với thuật ngữ điện tử phổ cập ngoài xã hội. Có lẽ ta cũng nên rút kinh nghiệm này trong việc xây dựng thuật ngữ.
(xem tiếp bài sau)








