Xây dựng điện hạt nhân cần có sự chuẩn bị sẵn sàng
Tình trạng thiếu điện và nhu cầu điện hàng năm của Việt Nam .
Từ năm 2000 về trước, hàng năm nước ta thiếu điện khoảng 500-600MW. Từ năm 2007 đến nay, mỗi năm thiếu khoảng 1000 MW. Đến năm 2015, thiếu ít nhất 6000MW. Để chi phí cho 1.000 MW, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) phải đầu tư khoảng 20.000 tỷ/năm nếu dùng nhiệt điện chạy than. Nếu dùng thuỷ điện chi phí khoảng 16.000-17.000 tỷ đồng/năm. Hiện nay mức đầu tư cho nhiệt điện khoảng 1.000 USD/1KW. Nếu đầu tư 1.000MW, dùng nhiệt điện mất khoảng 1,3 tỷ USD lại ảnh hưởng môi trường do 6 triệu T khí C02 thải ra 1 năm. Ngoài việc tăng cường truyền tải điện từ miền Nam ra miền Bắc qua đường dây 500 KV, tận dụng tối đa việc mua điện của Trung Quốc cũng không đáp ứng được nhu cầu điện hàng năm. Vì vậy EVN đã có chương trình tiết kiệm điện năm 2008 trên cơ sở tiết kiệm 2% mức tiêu thụ điện cùng kỳ năm 2007. Các đơn vị đã sử dụng thiết bị điện một cách an toàn, tiết kiệm, hiệu quả cao. Tuy thế, vẫn chưa đạt mục tiêu tiết giảm 700MW như dự kiến trong lúc khó khăn này. EVN có cơ cấu tổ chức bao gồm các khâu từ phát điện, truyền tải, phân phối điện và kinh doanh điện, hiện chưa được tái cơ cấu lại toàn bộ ngành điện. Từ đó, giá điện hạch toán nội bộ EVN rất khó kiểm soát, khó biết hiệu quả từng khâu công tác, để quản lý tốt hơn nhằm làm giảm bớt tính độc quyền theo luật cạnh tranh thương trường.
Để tháo gỡ khó khăn chung về năng lượng điện, bên cạnh việc tiếp tục đầu tư làm thuỷ điện lớn Sơn La, làm thuỷ điện nhỏ, làm nhiệt điện… nước ta khẩn trương tìm nguồn năng lượng điện hạt nhân để bù đắp nhu cầu điện thiếu hụt hàng năm đang bức xúc.
Điện hạt nhân đã có từ trên 50 năm qua ở thế giới
Trên toàn cầu đã có 439 tổ máy điện hạt nhân (ĐHN) đang vận hành ở 31 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng công suất khoảng 370.000MWe. Riêng năm 2006, ĐHN đã chiếm khoảng 16% sản lượng trên thế giới (khoảng 2658 tỷ KWe). Hiện nay, 34 tổ máy ĐHN đang được tiếp tục xây dựng ở 11 nước chủ yếu là ở Trung Quốc, Nhật Bản và Nga. Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) cho rằng ĐHN sẽ tăng mạnh trong vòng 15 năm tới với khoảng 60 nhà máy ĐHN sẽ được XD thêm, nâng tổng công suất ĐHN của thế giới lên mức 430.000 MWe dựa vào các kế hoạch XD của Trung Quốc, Ấn Độ, Phần Lan, Pháp và một số nước khác gần đây. Như thế, ĐHN sẽ tăng lên mức 17% (thay cho 16% hiện nay). Dự báo nhu cầu năng lượng của toàn cầu sẽ tăng gấp đôi vào năm 2015 so với mức năm 1980. Vì thế xây dựng điện hạt nhân sẽ là một giải pháp quan trọng để giải quyết nhu cầu trên, cùng với việc khai thác hợp lý các nguồn năng lượng tái tạo.
Tình hình phát triển ĐHN của một số nước
- Trung Quốc hiện có 11 tổ máy ĐHN, đang triển khai giai đoạn II chương trình phát triển ĐHN. Có 6 lò PWR nội địa theo thiết kế trong nước, đang được xây dựng. Đồng thời 10 tổ máy sẽ khởi công vào 2010. Bên cạnh đó, có 4 tổ máy thuộc thế hệ III theo công nghệ Phương Tây (lò AP 1000) đang được XD sẽ cung ứng 36.000MWe. Trung Quốc dự kiến tăng công suất ĐHN lên 4 lần vào năm 2020.
Trước đây, ở thời điểm cuối năm 2000, Trung Quốc mới có 3 lò ĐHN với tổng công suất 2300MWe và 8 lò đang XD có tổng công suất 6600MWe. Hiện nay 3/4 điện của Trung Quốc là nhiệt điện than đá.
Trung Quốc đang chú trọng vào khai thác thuỷ điện nên ĐHN hiện đạt mức trên 1% điện quốc gia.
- Indonesia mới có kế hoạch XD nhà máy ĐHN 2000 MWe vào đầu 2012.
- Hàn Quốc tính đến cuối 2007 ĐHN cung cấp khoảng 36% tổng điện năng cả nước. Có 20 tổ máy ĐHN đang hoạt động, về công suất đứng thứ 4 thế giới. Khởi công từ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước, Hàn Quốc tham gia phát triển công nghệ lò OPR 1000 và lò APR 1400. Viện nghiên cứu năng lượng nguyên tử Hàn Quốc đã nội địa hoá các công nghệ nhiên liệu lò CANDU (1987) lò PWR (1988) thiết kế nhà máy ĐHN tiêu chuẩn Hàn Quốc (lò KSNP năm 1996).
Lò OPR 1000 là loại lò phản ứng nước nhẹ áp lực kiểu tối ưu được cải tiến để đạt hiệu suất cao và an toàn tốt, đã hoạt động 8 lò và 8 tổ máy, đang XD tiếp 4 lò. Thời gian XD lò OPR 1000 là 4 năm. Lò APR 1400 có nhiều cải tiến, tiết kiệm, tiến bộ hơn, công suất cao hơn. Tuổi thọ lò và tổ máy đạt 60 năm sẽ hoà vào lưới điện năm 2016. Lò APR 1400 là loại lò thế hệ thứ III tiên tiến hiện nay.
- Nhật Bản bắt đầu ĐHN thương mại từ tháng 7/1966. Hiện nay có 55 tổ máy đang vận hành, 2 tổ máy đang XD, 11 tổ máy đang lập kế hoạch XD. Hiện tổng sản lượng ĐHN là 49580 MWe chiếm trên 1/3 sản lượng điện quốc gia, trở thành nước sử dụng ĐHN đứng thứ 3 thế giới sau Mỹ và Pháp. Có 23 lò theo công nghệ PWR (lò nước nhẹ áp lực) và 28 lò theo công nghệ BWR (lò nước nhẹ sôi). Ở Nhật Bản, ĐHN do 2 hãng của tư nhân lớn chuyên đảm nhiệm. Toshiba chuyên làm lò BWR. Mitsubishi chuyên làm lò PWR, đang XD tiếp 2 lò APWR 1538 Mwe, đến nay hãng có 40 năm kinh nghiệm làm 23 lò PWR. Lò APWR là loại lò thế hệ thứ III + (trên III) tiên tiến bảo đảm 100% người làm việc không phải mặc áo bảo hộ phóng xạ (còn lò BWR hiện bảo đảm chỉ được 50%).
- Pháp: Hãng AREVA làm ĐHN có cơ sở công nghiệp ở 43 quốc gia và mạng thương mại ở 100 nước. Có 6,5 vạn người làm việc cho hãng, trở thành hãng xuất khẩu ĐHN lớn hàng đầu thế giới. Pháp hiện có 58 lò PWR với tổng công suất đạt 63.000 MWe chiếm vị trí thứ 2 thế giới sau Mỹ. ĐHN hiện chiếm trên 76% tổng lượng điện quốc gia, chiếm tỷ lệ cao nhất toàn cầu. Ngay từ năm 2000, Pháp đã xuất khẩu 72,2 tỷ KWh ĐHN sang các nước láng giềng như Thuỵ Sỹ, Italia, Anh. Hầu hết các lò ĐHN của Pháp là loại lò PWR. Pháp là nước làm dịch vụ trọn gói ĐHN đứng hàng đầu thế giới. Về lĩnh vực truyền tải và phân phối điện, Pháp đứng thứ 3 quốc tế. Ngay từ năm 1995, Pháp đã phát triển loại lò PWR thế hệ thứ III thương mại. Dự kiến đến 2034 trở đi sẽ sản xuất lò PWR thế hệ thứ IV để xuất khẩu. Tập đoàn phát triển điện lực Pháp (EDF) là một trong những tập đoàn hàng đầu Châu Âu về lĩnh vực điện tổng hợp. Từ nay tới năm 2020, trong số các nhà máy điện cần xây dựng trên thế giới thì một nửa trong số đó dự kiến XD ở châu Á. Tập đoàn EDF đã có mặt tại châu Á từ 20 năm qua. Vì châu Á đang có tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ trên toàn cầu.
Hiện có loại lò EPF 1600 là sản phẩm kết hợp từ 2 loại lò PWR nổi tiếng kiểu N4 của Pháp và lò KonVoi của Đức đạt công suất 1600 MWe có thời gian XD chỉ khoảng 2 năm, tuổi thọ 60 năm. Đây là loại lò cải tiến tốt hơn thế hệ thứ III tiên tiến của thế giới và ưu việt hiện nay.
Xây dựng ĐHN ở nước ta
Ngày 18/7/2007, Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006-2015 có xét đến 2025 (gọi tắt là quy hoạch điện VI) đã được Thủ tướng Chính phủ duyệt theo Quyết định số 110/2007/QĐ-TTg. Nhu cầu điện cần cho sản xuất ở Việt Nam khoảng 294 tỷ KWh vào năm 2020 và vào năm 2025 là 562 tỷ KWh. Báo cáo đầu tư XD nhà máy ĐHN đầu tiên ở nước ta do Bộ Công thương sẽ trình Chính phủ. Bộ KHCN sẽ trình Luật Năng lượng Nguyên tử lên Quốc hội. Tháng 5/2009 dự kiến kế hoạch XD nhà máy ĐHN đầu tiên sẽ trình Quốc hội xem xét.
Dựa vào 20 địa điểm đã khảo sát dọc miền Trung, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đã căn cứ vào quy hoạch trên (theo phụ lục 1B) được ban hành, nước ta sẽ đưa vào vận hành nhà máy ĐHN đầu tiên 1000 MWe do EVN làm chủ đầu tư. Ngày 20/5/2008 Hội thảo chuyên đề “Nhà máy ĐHN và sự chấp nhận của quần chúng” tại Phan Rang – Tháp Chàm (tỉnh Ninh Thuận) do EVN và EDF Pháp tổ chức. Như thế sẽ XD 2 nhà máy ĐHN tại khu vực xã Phước Dinh (huyện Ninh Phước) và xã Vĩnh Hải (huyện Ninh Hải). Mỗi nhà máy sẽ XD 2 tổ máy. Mỗi tổ máy công suất 1000 MWe. Tổng kinh phí xây dựng trên 9 tỷ USD. Dự kiến khởi công 2014 và tổ máy đầu tiên sẽ đi vào vận hành từ 2020.
Giá thị trường quốc tế đầu tư ĐHN là 2000 USD cho 1 KWe. Một nhà máy ĐHN có 2 tổ máy 1000 MW, thì giá là trên 4 tỷ USD. Nước ta XD ĐHN đi sau thế giới ít nhất 20 năm (muộn nhất là 50 năm sau lò ĐHN của Liên Xô có đầu tiên từ 1957) nên có điều kiện tiếp thu công nghệ tiên tiến của quốc tế. Lò ĐHN có mô đun thiết kế và sử dụng là lò PWR 1000 MWe tương đối phổ biến và an toàn ở thế hệ thứ III (nếu dùng loại lò ĐHN thế hệ II thì lạc hậu so với thế giới 20 năm). Lò thế hệ III có nhiều tin cậy về an toàn hơn hẳn. Pháp và Nhật Bản có nhiều kinh nghiệm ĐHN hơn nhiều nước. Vừa qua Pháp và Nhật đã ký hợp tác liên doanh sản xuất lò PWR thế hệ III nên ta có thuận lợi tiếp cận KHCN đỉnh cao thế giới. Số lò ĐHN của Pháp nhiều hơn của Nhật, hầu hết đều dùng công nghệ PWR tiên tiến nên độ tin cậy cao hơn. Pháp dùng nhiều ĐHN, có kinh nghiệm vận hành, xuất khẩu ĐHN.
Ngành xây dựng cần có sự chuẩn bị ngay từ bây giờ để đảm đương được việc xây dựng ĐHN ở nước ta.








