Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 11/06/2008 00:04 (GMT+7)

Vũ trụ âm dương

“Chắc chắn quan niệm nguyên tử đầu tiên là do người Hy Lạp có trước, nhưng tôi có thể chứng thực rằng ý niệm về ba động thực là nguyên lai ở Trung Hoa, bởi vì mỗi khi người ta thấy mô tả tác dụng của Âm – Dương thì luôn luôn là một quá trình cực cao và cực thấp, khi cái nọ lên thì cái kia xuống, đấy là quan niệm về ba động. Quan niệm bản lai về nguyên tử như là cái gì không thể phân chia được thì thực là ý niệm của Hy Lạp hay Ấn Độ, còn ý niệm về ba động có tăng có giảm, có lên có xuống, có thể gọi được là ý niệm Trung Hoa”.

Cái “đàn cò trắng bay chung” ấy chính là đoàn thể cộng đồng của xã hội nông dân nguyên thủy. Bên nam bên nữ, đàn ông đàn bà, chính là cách thức phân công đầu tiên, tuy phân chia nam, nữ như hai giai cấp khác nhau mà cùng nhau xướng họa, để “loan sánh phụng” để “mình sánh ta” đúng theo mô thức Âm – Dương, khuynh hướng khác mà chí hướng chung, chung một nguồn sống.

Vậy ngày hội hễ mùa xuân của nông dân thường có một tinh thần thân ái, yêu sống lạc quan và đoàn kết tập thể. Chúng ta ai cũng nhớ rằng ngày Tết ở dân Việt sẵn có cái mỹ tục thuần phong kiêng tất cả điều xấu, như cãi nhau, chửi nhau, đánh nhau, nói xấu gièm pha lẫn nhau, kiêng gắt gỏng, kiêng đòi nợ hay vay mượn. Những kẻ ngày thường rất thù oán đố kỵ nhau mà đến ngày Tết gặp nhau đều phải hỷ hả tha thứ cho nhau, giữ hòa khí vui vẻ với nhau để khỏi “xui”. “Giận đến chết, ngày Tết cũng vui”. Tục kiêng kỵ này có lẽ là dấu vết cộng đồng thân ái còn lại trong phong tục ngày xuân. Thuở xưa, thời cộng đồng nguyên thủy không phải chỉ có ngày Tết, đầu xuân người ta mới thân ái cộng đồng, mà suốt năm, hàng ngày các phần tử trong một đoàn thể đều phải có tinh thần đoàn kết cộng đồng vậy:

Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Lễ hội Đồng Kỵ
Lễ hội Đồng Kỵ
Tư tưởng cổ điển Đông phương như ở các xã hội nông nghiệp Trung Hoa hay Việt Nam vốn thiên về thực nghiệm, có khuynh hướng hiện thực, ưa cụ thể hóa những ý niệm trừu tượng. Cho nên vấn đề thời gian và không gian là hai phạm trù khái niệm giả định của các triết học tư duy cậnđại hay khoa học thực nghiệm, đối với Đông phương mất tính cách trừu tượng khách quan. Không một triết gia Đông phương nào đã quan niệm thời gian là một dòng chảy đều đều của những đoạn kế tiếp nốivào nhau. Cũng không có ai quan niệm không gian trống rỗng đơn giản do những phần tử đồng dạng chấp lại, cái nọ xen vào cái kia. Bởi vì nhân loại Đông phương còn cảm xúc trực tiếp với cái nguồn sống“sinh sinh” của thiên nhiên chung quanh, cho nên thời gian đối với họ trong tâm lý nhà nông là thời tiết của bốn mùa, và là thời kỳ gặt hái hay hội hè, nhàn rỗi “ngày ba tháng tám”, “ngày rộng thángdài”. Không gian cũng thế, là “giang sơn” là “thổ ngơi” là phương hướng lẫn lộn. Mỗi phương có một đặc tính với khí hậu riêng tùy theo khu vực địa lý của nó. Quan niệm thời gian đi đôi với khônggian, không rời nhau, không tách hẳn ra làm hai khái niệm độc lập. Mỗi phương đi đôi với một thời. Thời gian và không gian có cả một mớ thuộc tính cụ thể để chỉ định. Ví dụ như sắc đỏ là thời nhàChu, và cũng là đặc tính của mùa hè thuộc về lửa, và về phương Nam gần mặt trời chẳng hạn.

Đấy là quan niệm cụ thể về thời gian và không gian, không biệt lập hẳn với những hành vi cụ thể. Người ta có thể ảnh hưởng vào thời gian và không gian bằng thay đổi sắc thái của những tượng trưng phù hiệu của chúng. Thời và phương không có ý nghĩa thời gian tự thâu hay không gian tự thâu. Thời là thời vận, là cơ hội thuận lợi hay không thuận lợi cho chủ trương nhất định. Phương có nghĩa là phương hướng của nhà địa lý phong thủy. Người ta tưởng tượng thời gian và không gian như một toàn thể những sự xếp đặt cụ thể và phức tạp như là những địa thế và vận hội, chính theo nghĩa ấy mà chúng ta phải hiểu câu thơ mở đầu của Phan Thanh Giản trước khi tuẫn tiết.

Trời thời, Đất lợi, lại Người hòa.

Lý do không phải cổ điển Đông phương không sớm biết hình học hay là lịch học đâu. Lý do là ở tại tư tưởng triết học, sự giới hạn vào một mớ hiểu biết về địa thế và vận hội để hành động. Nhờ sự hợp lý hóa cái mớ hiểu biết ấy mà các hiền triết Đông phương mong khám phá những nguyên tắc của một nghệ thuật tối cao. Cái nghệ thuật ấy bao hàm cả vật lý học lẫn luân lý học nhằm mục đích tổ chức tu sửa vũ trụ lẫn xã hội. Bởi vậy cho nên quan niệm thời gian và không gian ở Đông phương còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của hình thái xã hội. Đặc tính của thời gian trôi chảy tuần hoàn, cho nên tượng trưng bằng cái vòng tròn, đối xứng với không gian tượng trưng là hình vuông.

Trăm năm tính cuộc “Vuông” “Tròn”

Phải đo cho tới ngọn nguồn lạch sông.

(Kiều)

“Tròn” chữ Hán – Việt là Viên, “Vuông” chữ Hán – Việt là Phương, Thiên + viên, Địa phương, Trời tròn, Đất vuông, ấy là mô thức nguyên thủy trong quan niệm thời gian và không gian của Đông phương.

Thời gian có tính cách nhịp điệu cũng như không gian chia làm các khu cân đối. Người ta không thể quan niệm một trật tự, một hàng ngũ tế lễ hay “dương cơ”, một địa thế ưu đãi, một trật tự thời gian hay không gian nếu người ta không gán cho chúng một trọng tâm lấy làm điểm trục. Cho nên người ta chia ruộng đất theo kiểu chữ Tỉnh, gọi là Tỉnh điển, hay là người ta đắp nền nhà Minh đường đều lấy khu chính giữa làm trung tâm, cũng như một năm lấy tháng trung tâm ở giữa hai kỳ tế Xuân – Thu. Hội và Kỳ đều chỉ định vào thời gian, nhưng Kỳ có nghĩa là kỳ hạn, còn Hội có nghĩa là ngày hội hè. Thời gian ở đây có ý nghĩa là những thời kỳ có sự sum họp vui vầy theo nhịp điệu trong một năm, về mùa đông rét lạnh, nông nghiệp nghỉ ngơi, tập trung vào nơi trú ẩn, ấy là thời gian đông đặc, có giá trị cho cả một năm. Và ở chỗ nào có sự quây quần tụ họp của đoàn thể xã hội thì đấy là không gian có giá trị, “đất lành chim đậu” hay là Địa lợi. Cái nhịp điệu thời gian, không gian phỏng theo nhịp điệu của sự hoạt động xã hội nông nghiệp vậy.

Tóm lại, quan niệm không gian và thời gian của người Đông phương không chú trọng vào phương diện khu biệt những khái niệm trừu tượng, cho nên không phải là hai cái khung đồng dạng, đồng tính. Họ chia thời gian và không gian ra 5 qui mô chính dùng để xếp đặt những phù hiệu thuộc về cơ hội và cảnh vật. Quan niệm ấy đủ đem lại cho họ những cốt cách của một nghệ thuật hoàn bị toàn diện, một quan niệm nhất quán dùng để tu sửa vũ trụ và xã hội nông nghiệp thời phong kiến. Người Đông phương tránh sự nhìn nhận thời gian và không gian như là những lý niệm (concept rationel) độc lập, hay là hai cá tính biệt lập. Thời – không là một phức thể có hiệu nghiệm, xếp đặt một cách cụ thể. Sự xếp đặt một mớ những qui tắc ấy, không phải hỗn độn mà trái lại có điều lý, theo nguyên lý trật tự. Cái nguyên lý ấy với cái cảm tưởng về hiệu nghiệm của nhịp điệu là một vậy. Cái sức hiệu nghiệm của nhịp điệu điều tiết rất rõ rệt hiển nhiên trong phép tổ chức xã hội theo Lễ Nhạc, trong đó Lễ là lý, Nhạc là hòa, Lễ là trật tự trong lòng người. Tổ chức xã hội theo Lễ Nhạc tức là hợp cả ngoài và trong, vật chất và tinh thần có điều lý, có trật tự quân bình. Đấy là từ điều tiết nhịp điệu thời – không mà sức hiệu nghiệm đã ảnh hưởng vào tư tưởng vậy. Cái cảm tưởng về sức hiệu nghiệm ấy của vũ trụ tiết điệu, thời – không nhịp nhàng ấy là cơ bản của quan niệm Âm – Dương, mà ở trong Âm có Dương cũng như trong Dương có Âm vậy. Đấy là cái vũ trụ quan mà Nguyễn Công Trứ đã hình dung vào một câu thơ hết sức linh động:

Hồn hồn nhất đại khối,

Diểu diểu như nghị quần.

Nghĩa là:

Lững lững vô cùng một khối lớn,

Giằng giặc liên tục như đàn kiến.

Đấy là Vũ – trụ Thời – không Âm – Dương mà ngày Tết Việt Nam, trong tiềm thức của nhân dân nông nghiệp lấy làm ngày giờ linh thiêng bất khả xâm phạm để đánh dấu một năm mới, một khởi điểm cho cuộc đời mới, cho vận số mới vậy.

Nguồn: Xưa & Nay, số 301 – 302, 2/2008, tr 13

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.