Hàm lượng vitamin trong cơ thể phụ thuộc vào tình trạng bệnh lý, sinh lý của từng người. Nói chung, hàng ngày cần một hàm lượng của các loại vitamin sau: Vitamin C:
Vitamin C là axit ascorbic ở dạng tinh thể không màu, vị chua, dễ tan trong nước, có nhiều trong cam, chanh… tham gia vào các hoạt động trong cơ thể như quá trình oxy hoá - khử, tham gia vào quá trình chuyển hoá gluxit, ảnh hưởng đến sự thẩm thấu mao mạch và đông máu, tham gia vào quá trình tạo thành hoóc môn steroit. Hiện nay vitamin C được điều chế bằng tổng hợp hoá học, đưa vào cơ thể mà không lưu trữ lại trong cơ thể.
Thường dùng chữa bệnh thiếu vitamin C, chứng chảy máu cam, chứng chảy máu ở thận, phổi, tử cung, tăng cường sức đề kháng trong các bệnh nhiễm trùng, nhiễm khuẩn, dùng trong các bệnh gan, thận, lao, suy dinh dưỡng, chống đỡ sự mệt mỏi ở các cơ bắp, giúp cho các tuyến thượng thận tiết ra hoóc môn corticosteroit, giúp cho gan phục hồi lại các dự trữ về glycogen.
Vitamin B 1:
Vitamin B 1là thiamin hyđroclorua, có nhiều trong men bia, rau xanh, hoa quả, mùi thơm, vị hơi đắng, dùng ở dạng clohyđrat hay brom hyđrat, có nhiều trong gan, tim, thận. Người không tổng hợp được B 1, chỉ có thực vật và một số vi sinh vật tổng hợp được vitamin B 1nên vitamin B 1phụ thuộc vào thức ăn đưa vào cơ thể hàng ngày. Vitamin B 1không có khả năng kếp hợp với các tổ chức trong cơ thể. Do đó bị thải trừ nhanh và còn bị men thiaminaza phá huỷ làm mất tác dụng, nên hiện nay người ta tổng hợp các dạng B 1khác không chịu tác dụng của thiaminaza như thiaminpropyldisunfua o-benzoyl thiamin disunfua, Vitamin B 1dùng chữa bệnh phù thũng, viêm dây thần kinh, đau dây thần kinh, chứng liệt ngoại vi, chữa chứng đau thắt ngực, tuần hoàn động mạch vành, nhồi máu cơ tim.
Vitamin B 12:
Vitamin B 12là xyanocacbalamin có nhiều porphirin gồm 4 nhóm pyrol chứa nguyên tử coban nối liền với nhóm CN. Vitamin B 12là thuốc chữa bệnh thiếu máu được hấp thụ qua thức ăn nhờ một dịch vị là gustromucoprodein, thiếu nó thì B 12bị đào thải qua nước tiểu, do đó trong chữa bệnh người ta dùng cách tiêm. Hiện nay điều chế hyđro xycabalamin chậm hấp thụ hơn nên có tác dụng kéo dài hơn.
Vitamin E:
Vitamin E hiện có 40 chất, trong đó tác dụng mạnh nhất là α-tokophenol, có nhiều trong mầm ngũ cốc, dầu thực vật, rau diếp, sữa. Các bộ phận cơ thể người không tổng hợp được Vitamin E mà chỉ có thể dự trữ trong một số cơ quan, mặt khác cũng có tác dụng lên hệ thần kinh và các cơ vân.
Vitamin K:
Vitamin K là dẫn xuất của p-naphto quinon (2-metyl-3 phytyl-1,4-naphto-quinon-(K1); 2-metyl-3-difarnesyl-1,4naphto quinon ( K 2). K 1có nhiều trong rau xanh. K 2có nhiều trong nấm và vi khuẩn.
Vitamin K có tính chống chảy máu, làm đông máu, tham gia vào quá trình hình thành prothrombin của gan.
Vitamin D:
Vitamin D bao gồm D 1, D 2, D 3, D 4, D 5nhưng thông dụng là D2 và D3 là dẫn xuất của sterin, có nhiều trong lòng đỏ trứng, sữa, bơ, trong dầu gan cá thu, có tác dụng điều hoà, chuyển hoá photpho và canxi trong cơ thể.
Vitamin A:
Vitamin A có nhiều trong sữa, bơ, dầu cá, lòng đỏ trứng, có trong cơ thể do oxy hoá caroten. Trong cơ thể các α, β, γ-caroten bị oxy hoá đều tạo thành vitamin A 1.
Vitamin A giúp tăng sức đề kháng của cơ thể trong các bệnh nhiễm trùng, chống bệnh quáng gà, chứng khô mắt, có tác dụng chữa bệnh ngoài da.
Vitamin F:
Vitamin F gồm các axit chưa no mà cơ thể không tổng hợp được như axit linoleic, arachiđinic, trong đó axit arachiđinic hoạt động mạnh nhất nhưng có ít trong thực phẩm, song axit linoleic có nhiều trong dầu thực vật có thể chuyển thành axit arahiđinic. Vitamin F có tác dụng trong các quá trình chuyển hoá lipit, photpholipit, giúp cơ thể thải bớt cholesterol, chống nhiễm mỡ và làm vững bền thành mạch.
Vitamin P:
Vitamin P có nhiều trong chè xanh, hoa hoè, quả các loại citrus như chanh, ở dạng glucozit, là những flavonit có tác dụng làm giảm thẩm thấu mạch máu,… làm cho mạch máu bền vững, thường dùng với vitamin C. Hiện nay vitamin LP là vitamin chung cho các chất flavon như hepriđin, eryođietin, rutin, quesxetin, etylchalcon, catechin, axit galic…