Vitamin E
Cũng như vitamin C, vitamin E được sử dụng rộng rãi trong công nghệ thực phẩm vì tính kháng oxy rất mạnh. Được dùng làm chất bảo quản thực phẩm dưới tên gọi E306 đến E309, ức chế các gốc tự do, bảo vệ màng tế bào và ngăn chặn sự ôxy hoá các lipoprotein. Chính các lipoprotein tạo các mảng ở thành động mạch.
Vitamin E là yếu tố ngăn ngừa các bệnh tim mạch. Nhiều nghiên cứu dịch tễ cho thấy có sự giảm nguy cơ tai biến động mạch vành như nhồi máu cơ tim ở những người có tỷ lệ vitamin E cao trong máu.
Vitamin E còn có tác dụng chống đông máu. Nó ức chế sự hình thành các cục máu nhỏ vì nó ngăn ngừa sự kết dính các tiểu cầu gây đông máu, tạo cục máu cực nhỏ. Nó cũng ức chế sự phát triển các cơ trơn bị tổn thương, một yếu tố khác gây xơ vữa động mạch.
Theo một nghiên cứu mới đây, vitamin E còn có khả năng kích thích hệ miễn dịch ở người cao tuổi.
Vitamin E tan trong dầu, mỡ, cồn, chloroform và aceton, không tan trong nước. Vitamin E trong thực phẩm, khi vào cơ thể, không bị các enzym phân ly. Muối mật nhũ hoá vitamin E thành những giọt dầu rất nhỏ, được ruột non hấp thụ. Từ đó, vitamin E được chuyển sang hệ tuần hoàn, đi đến khắp nơi trong cơ thể. Vitamin E được tích trữ ở mô mỡ và nhiều nhất ở gan. Mức hấp thu vitamin E đạt điểm cao nhất là 4 đến 9 giờ, sau khi được đưa vào cơ thể. Khi ức chế sự ôxy hoá các axit béo không no đa nối đôi, tocopherol bị tiêu huỷ dần. Vitamin E được liên tục đào thải qua mật và phân. Cơ thể con người dự trữ vài gam vitamin E. Vì vậy, với một chế độ dinh dưỡng cân bằng, ít khi bị thiếu hụt vitamin E.
Nguy cơ thiếu vitamin E:
- Lượng vitamin E đưa vào cơ thể thấp, trong một thời gian ngắn. Vitamin E trong thực phẩm bị huỷ do chế biến không hợp lý.
- Cơ thể không còn khả năng hấp thu vitamin E do túi mật, tuỵ tạng, gan không hoạt động tốt (có rối loạn do phẫu thuật ở ruột hay thiếu hụt muối mật).
Sử dụng thường xuyên dầu paraffin, để giải quyết táo bón, có thể dẫn đến thiếu vitamin E. Vitamin này tan trong paraffin, nên không còn để xuyên qua màng ruột.
Thiếu hụt vitamin E cũng được thấy ở trẻ sinh non: trong trường hợp này trẻ dễ bị kích động, bị phù nề, thiếu máu huyết tán.
Người lớn thiếu vitamin E không khoẻ khoắn, bơ phờ, uể oải, mất khả năng tập trung, không thích hoạt động cơ thể, nhược cơ, hồng cầu dễ vỡ, nồng độ creatinin trong nước tiểu tăng, mô mỡ có vết vàng hay nâu.
Mèo, heo, gà, vịt thiếu vitamin E bị bệnh “mỡ vàng”, do mỡ bị ôxy hoá. Viện Đại học Yale (Mỹ) cũng cho biết có hiện tượng “mỡ vàng” ở người thiếu vitamin E. Ở tử thi người mắc bệnh tim, người ta cũng nhận thấy hiện tượng mỡ vàng, gợi ý là do thiếu vitamin E.
Hiện nay, đã xác định xơ nang tuyến vú là do thiếu vitamin E.
Cơ thể có khả năng dự trữ vitamin E cao. Một báo cáo năm 1974 cho biết vitamin E là chất dinh dưỡng đồng hoá trực tiếp, không có tác dụng độc hại.
Trước đây, một nghiên cứu Mỹ phổ biến cho thấy: những người tình nguyện trưởng thành sử dụng 500 - 600 UI vitamin E/kg trọng lượng mỗi ngày và trong 5 tháng, không có triệu chứng ngộ độc. Một báo cáo khác cho biết với liều 800 UI/ngày, trong một tuần, gây mệt mỏi như triệu chứng cúm, cao huyết áp và nhịp tim đập mạnh. Đã có trường hợp một bệnh nhân điều trị với vitamin K, sau khi dùng vitamin E, nồng độ vitamin K giảm đáng kể. Nhưng khi ngưng dùng vitamin E, nồng độ vitamin K trở lại như cũ. Hiện tượng này chứng minh đặc tính chống huyết khối và chống đông máu của vitamin E. Một trường hợp độc hại ở vitamin E được ghi nhận ở trẻ sinh non khi tiêm tĩnh mạch vitamin E.
Một nghiên cứu mới đây cho thấy vitamin E liều cao (mức 150 UI/ngày) là nguy cơ làm tăng tỷ lệ tử vong. Nếu cao hơn nữa như 2.000 UI/ ngày, trong điều trị bệnh Parkinson hay bệnh Alheimer, nguy cơ đó tăng đến 20%. Vì vậy, các nhà nghiên cứu đề nghị liều vitamin E cao nhất là 400 UI/ ngày.








