Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 13/10/2010 21:36 (GMT+7)

Việt Nam chưa có thương hiệu về công nghệ và công nghiệp môi trường

PV:Thưa giáo sư, ông đánh giá như thế nào về công nghệ và công nghiệp môi trường hiện nay của Việt Nam ?

GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng:Trước tiên cần làm rõ khái niệm về công nghệ môi trường và công nghiệp môi trường: Công nghệ môi trường là tổng hợp các biện pháp vật lý, hoá học, sinh học nhằm ngăn ngừa và xử lý các chất độc hại phát sinh từ quá trính sản xuất và hoạt động của con người. Công nghệ môi trường bao gồm các tri thức dưới dạng nguyên lý, quá trình và các thiết bị kỹ thuật thực hiện nguyên lý và quá trình đó. Như vậy công nghệ môi trường bao gồm "sản xuất sạch hơn" và công nghệ xử lý chất thải "cuối đường ống". Công nghiệp môi trường chính là ngành sản xuất, chế tạo các thiết bị, máy móc xử lý, tái chế, tái sử dụng chất thải (chủ yếu là khí thải, chất thải rắn, nước thải) và tihết bị quan trắc môi trường.

Công nghệ và công nghiệp là một thể thống nhất và đồng hành. Nếu chỉ chú trọng phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) môi trường mà không chú ý phát triển công nghiệp môi trường thì công nghệ môi trường Việt Nam vẫn bị phụ thuộc, không làm chủ được và những hiệu quả kinh tế và kỹ thuật của công nghệ môi trường hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam không thể đạt được, thậm chí phát triển công nghệ môi trường như vậy chỉ có tính cục bộ, riêng lẻ không thể công nghiệp hóa, hiện đại hoá được.

Trong thời gian qua, công nghệ và thiết bị xử lý môi trường hiện đại có hiệu quả cao đã du nhập vào nước ta thông qua các dự án phát triểncông nghiệp do nước ngoài đầu tư trực tiếp hay liên doanh và các chợ công nghệ, thiết bị được tổ chức gần đây. Đó là điều kiện thuận lợi để các chuyên gia môi trường và công nghiệp nước ta tiếp cậnvới các công nghệ và thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường hiện đại. Nhưng không phải công nghệ nào của nước ngoài nhập vào nước ta cũng đều có tính hiện đại và có chất lượng cao. Có lẽ cũng phải nhắclại một số "bài học xương máu", như việc nhập khoảng 60 nhà máy xi măng lò đứng của Trung Quốc, vừa lạc hậu về công nghệ sản xuất, vừa lạc hậu về công nghệ xử lý môi trường; việc nhập dây chuyền chếbiến phân compost từ rác thải sinh hoạt cho nhà máy tại Cầu Diễn (Hà Nội) đợt đầu với công nghệ lạc hậu, sau phải đầu tư lại, thay thế toàn bộ dây chuyển sản xuất bằng công nghệ của Tây Ban Nha; việcnhập 25 lò đốt chất thải y tế kiểu Howal của áo vừa đắt tiền vừa không hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế ở nước ta v.v…

Thời gian qua, trong lĩnh vực phát triển công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường bằng nội lực, chúng ta cũng đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, như: Thiết kế, chế tạo thiết bị lọc bụi tĩnh điện nhãn hiệu LBĐ-93T của Liên hiệp Sản xuất Công nghệ Hoá học (UCE), đã được sử dụng ở nhà máy xi măng Hệ Dưỡng - Ninh Bình, xi măng Quảng Bình, xi măng Hà Tiên; các Xyclon lọc bụi của Viện NCKH Bảo hộ Lao động, đã được áp dụng ở nhiều xí nghiệp; Lò đốt chất thải công nghiệp nguy hại ký hiệu CEETIA - 150 của Trung tâm Môi trường (Trường Đại học Xây dựng) đang được sử dụng tại Liên hiệp xử lý chất thải Nam Sơn (Hà Nội); Lò đốt chất thải y tế có công suất 1-5 tấn/ngày do nhiều cơ quan trong nước chế tạo sản xuất; Công nghệ Seraphin chế biến và xử lý rác thải đô thị của Công ty cổ phần Công nghệ Môi trường Xanh SERAPHIN; Trạm xử lý nước thải ở Công ty XNK Thuỷ sản An Giang do Công ty Công nghệ Môi trường Thăng Long thiết kế và chế tạo; Trạm xử lý nước thải của một số nhà máy Bia; Trạm xử lý nước thải Bệnh viện; Chuyển đổi ôtô, xe máy chạy xăng sang chạy bằng khí gas hoá lỏng (Trường ĐH Bách Khoa Đà Nẵng) v.v…

Một số ví dụ nêu trên chứng tỏ chúng ta có thể tiếp cận được công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường hiện đại, nhưng phát triển công nghệ và công nghiệp môi trường nước ta còn ở giai đoạn khởi đầu, chưa có ngành công nghiệp môi trường với thương hiệu, chưa đáp ứng nhu cầu giải quyết các vấn đề cấp bách của bảo vệ môi trường, đặc biệt là xử lý ô nhiễm môi trường ở các xí nghiệp vừa và nhỏ và ở các đô thị, các khu/cụm công nghiệp ở nước ta.

PV:Trong điều kiện Việt Namgia nhập WTO thì các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh của Việt Nam sẽ phải đối mặt như thế nào trước rào cản về môi trường áp dụng cho sản phẩm?

GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng:Trước đây, khi nước ta chưa gia nhập WTO, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu ra thị trường nước ngoài hoặc từ nước ngoài nhập vào nước ta đều phải vượt qua hàng rào thuế quan, hoặc phải xin côta nhập khẩu. Ngày nay, khi nước ta đã gia nhập WTO thì hàng rào thuế quan sẽ dần dần được dỡ bỏ. Cốt lõi khốc liệt của sự cạnh tranh thương mại giữa nước ta với các nước là sản phẩm của nước ta phải có chất lượng cao, giá thành rẻ và an toàn về mặt môi trường (bao gồm cả an toàn về mặt sức khoẻ), trong đó an toàn về mặt môi trường là một yêu cầu mới của thời đại hiện nay. Thí dụ một công ty xây dựng muốn tham gia đấu thầu xây dựng một công trình nào đó ở nước ngoài, nếu công ty đó có chứng nhận đạt tiêu chuẩn quản lý môi trường ISO:14000 thì sẽ có ưu thế hơn trong đấu thầu, tương tự sản phẩm của công ty được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO 14000 sẽ được khách hàng ưa chuộng hơn. Bất cứ một hàng hóa thực phẩm nào mà được nuôi trồng, sản xuất trong điều kiện môi trường không bảo đảm, hàm chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kháng sinh hay kim loại nặng sẽ bị từ chối nhập khẩu, tương tự các hàng dệt may nếu hàm chứa hóa chất gây dị ứng cũng sẽ bị từ chối nhập khẩu.

PV:Chi phí cho công nghệ môi trường đối với một dự án là rất lớn, vì vậy một thực tế là nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang vi phạm quy định pháp luật về môi trường, để giải quyết vấn đề này theo ông cần phải làm gì?

GS. TSKH. Phạm Ngọc Đăng:Một số báo cáo thực tế cho thấy: Đầu tư cho công nghệ môi trường có thể chiếm từ 5% đến 20% (trung bình là 10%) tổng vốn đầu tư cho dự án đầu tư công nghiệp, chi phí vận hành công nghệ môi trường chiếm từ 2% đến 5% chi phí chung cho sản xuất. Nhưng các doanh nghiệp cần hiểu rằng nhiều đề tài khoa học đã chứng minh các chi phí trên còn nhỏ hơn nhiều so với thiệt hại về sức khoẻ con người, các hệ sinh thái và tài nguyên do các doanh nghiệp gây ra nếu họ không xử lý ô nhiễm môi trường đạt tiêu chuẩn môi trường. Mặt khác áp dụng công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường có thể mang lại hiệu quả kinh tế cụ thể, thí dụ ở các nhà máy cũng như sản phẩm đáng kể. Một số nhà máy áp dụng công nghệ xử lý nước thải, tuần hoàn sử dụng nước sẽ giảm được chi phí nước cấp v.v…

Như vậy để ngăn ngừa các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về môi trường thì trước tiên cần phải làm cho các doanh nghiệp nhận thức được các vấn đề nêu ở trên, trở thành người chủ động và tự giác tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường. Đồng thời các cơ quan quản lý môi trường phải tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường, áp dụng các công cụ kinh tế thị trường trong quản lý môi trường, như là xử phạt kinh tế, thu phí nước thải, phí khí thải, phí chất thải rắn và phí tài nguyên. Chỉ khi nào mức thu các loại phí này bằng hoặc lớn hơn chi phí đầu tư cho thiết bị xử lý môi trường thì mới thúc đẩy các nhà doanh nghiệp áp dụng các công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường. Mặt khác cần phải phát triển công nghệ và công nghiệp môi trường trong nước phù hợp với điều kiện Việt Nam để các doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư áp dụng công nghệ môi trường.

PV:Ông nhận định diễn biến về môi trường Việt Nam như thế nào trong thời gian tới?

GS. TSKH. Phạm Ngọc Đăng:Thật là khó khăn để nhận định, đánh giá diễn biến môi trường ở nước ta trong thời gian tới, bởi vì hệ thống quan trắc môi trường ở nước ta còn rất yếu, cơ sở dữ liệu môi trường còn phân tán và thiếu hệ thống, nhưng với hiểu biết chủ quan, chúng tôi nhận định rằng: chất lượng môi trường không khí ở nước ta từ nay đến 2010 không có biến động đáng kể, nói chung còn tốt, đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn môi trường. Riêng môi trường không khí đô thị nước ta vẫn bị ô nhiễm bụi trầm trọng. Môi trường không khí ở xung quanh các nhà máy, xí nghiệp nhiệt điện, vật liệu xây dựng, hóa chất (bao gồm cả các nhà máy phân hóa học), làng nghề, vẫn bị ô nhiễm lớn và gây tác động xấu đến sức khoẻ con người và các hệ sinh thái. Từ nay đến 2010, môi trường nước mặt trong phạm vi toàn quốc, đặc biệt là ở các đô thị lớn, xung quanh các khu công nghiệp và làng nghề vẫn bị ô nhiễm nặng và tiếp tục bị suy thoái, nồng độ các chất ô nhiễm tăng hơn hiện nay từ 1,2 - 1,4 lần. Về quản lý chất thải rắn đến năm 2010 sẽ có tiến bộ hơn, nhưng chắc chắn là không thể đạt được mục tiêu kế hoạch quốc gia: thu gom và xử lý đúng kỹ thuật đối với chất thải rắn sinh hoạt là 90% tổng lượng phát sinh, đối với chất thải công nghiệp nguy hại là 60% và đối với chất thải y tế là 100%.

PV:Thưa giáo sư, ông có thể đưa ra một vài giải pháp để phát triển công nghệ và công nghiệp môi trường tại Việt Nam ?

GS. TSKH. Phạm Ngọc Đăng:Để phát triển công nghệ môi trường, công nghiệp môi trường của nước ta, Nhà nước cần cụ thể hoá và điều hành tích cực hơn việc thực thi các chính sách và thể chế phát triển công nghệ và công nghiệp môi trường Việt Nam . Trước mắt, Bộ KH&CN, Bộ TM&MT, Bộ Xây dựng và Bộ Công Thwơng điều hành triển khai một số biện pháp như:

Thực hiện triệt để quản lý, kiểm soát ô nhiễm môi trường bằng các công cụ kinh tế, như là áp dụng phí: tài nguyên, nước thải, khí thải, phí chất thải rắn; mức thu phí phải nâng dần lên cho tới mức bằng hoặc lớn hơn chi phí đầu tư cho xử lý ô nhiễm môi trường, tạo ra nhu cầu buộc các nhà máy, xí nghiệp phải đầu tư trang thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường để giảm nộp phí môi trường.

Đầy mạnh đầu tư của Nhà nước cho phát triển KH&CN môi trường; đầu tư cho các đề tài nghiên cứu phát triển công nghệ môi trường mới và nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thử nghiệm các thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường hiện đại.

Khuyến khích các nhà đầu tư trong nước (như ưu đãi vay vốn, giảm thuế) và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất các thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường.

Đầu tư trang thiết bị nghiên cứu hiện đại cho các Viện nghiên cứu công nghệ môi trường và các trường Đại học đào tạo kỹ sư môi trường.

Có chính sách và thể chế để hình thành ngành công nghiệp chế tạo thiết bị môi trường, liên kết với các ngành công nghiệp khác để hỗ trợ cho phát triển ngành công nghiệp môi trường.

Có thể chế chọn lọc nhập các công nghệ và thiết bị môi trường của nước ngoài phù hợp với điều kiện nước ta và có thể chế thẩm duyệt, chứng nhận các công nghệ và thiết bị môi trường trong nước để khuyến khích áp dụng.

Phát triển hệ thống thông tin quốc gia và quốc tế về nhân lực, công nghệ và thiết bị môi trường.

Khuyến khích tổ chức thường xuyên các chợ công nghệ, trong đó không thể thiếu nội dung công nghệ và thiết bị môi trường. Nhà nước nên có sự hỗ trợ kinh phí tham gia các chợ này cho các trường đại học và các Viện nghiên cứu.

Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.