Viêm phổi do virus
Virus phá hủy biểu mô đường hô hấp
Các virus gây tình trạng viêm phổi lan tỏa từ đường hô hấp trên xuống đường hô hấp dưới với tổn thương viêm tróc, hoại tử lớp biểu mô lót mặt trong của đường hô hấp. Thông thường, virus từ vùng mũi, miệng được hít vào đường hô hấp qua các giọt dịch tiết. Từ đây, chúng nhanh chóng xâm nhập vào tế bào lót bề mặt để phát triển, tế bào sẽ bị giết chết trực tiếp hoặc gián tiếp từ cơ chế tự chết. Chính phản ứng của hệ miễn dịch đối với virus làm tổn thương niêm mạc hô hấp nặng thêm nữa, bạch cầu (đặc biệt là lympho bào) tiến tới vùng có virus và tiết ra hóa chất gây viêm cytokin, làm thoát dịch từ mô kẽ vào trong lòng phế nang. Chất tiết (gồm tế bào chết, bạch cầu, dịch thoát vào phế nang) gây tắc nghẽn phế nang, ngăn cản sự trao đổi oxy của máu. Sau một tuần thường có tình trạng bội nhiễm vi trùng làm cho viêm phổi trở nên nặng nề, lan rộng đưa đến suy hô hấp. Trong viêm phổi do virus người ta ghi nhận cả hai đáp ứng của hệ miễn dịch của cơ thể: miễn dịch dịcht hể và miễn dịch qua trung gian tế bào.
Trong bệnh cảnh nhiễm cúm, không chỉ tổn thương trực tiếp ở phổi mà nó còn tác động đến nhiều chức năng khác của cơ thể. Virus làm cho cơ thể nhạy cảm hơn với nhiễm vi trùng.
Khó xác định viêm phổi là do virus
Viêm phổi do rất nhiều tác nhân khác ngoài virus và các biểu hiện triệu chứng tương tự nhau. Do đó, rất khó phân biệt đâu là viêm phổi do virus đâu là viêm phổi do vi trùng. Thậm chí viêm phổi ban đầu là do virus nhưng sau đó lại bội nhiễm vi trùng.
Viêm phổi do virus thường có nhiễm virus hô hấp trên trước đó nên nhiều trường hớp bệnh nhân có biểu hiện sốt cao, ho, viêm mũi, đau cơ, nhức đầu… như tình trạng của cúm. Theo các chuyên gia, viêm phổi nguyên phát do virus cúm ít xảy ra nhưng nếu xảy ra thì bệnh cúm rất nặng, nguy hiểm và tử vong rất cao. Đối với những trường hợp sốt kéo dài, dai dẳng, ho khạc đàm có vướng máu, khó thở và có tình trạng tím tái thì phải xem có viêm phổi không.
![]() |
Những trường hợp nhiễm cúm mà có bệnh mãn tính: tim mạch, đái tháo đường, hen suyễn, suy giảm miễn dịch, lớn tuổi hoặc trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai… nếu bị viêm phổi sẽ rất nặng, nguy hiểm đến tính mạng. Những đối tượng này cần phải rất thận trọng.
Để xác định viêm phổi, ngoài triệu chứng sốt, ho khạc đàm, nặng ngực, khó thở… do bệnh nhân cung cấp, khi nghe phổi, bác sĩ sẽ phát hiện ra vùng phổi bị viêm và tổn thương phổi trên phim X quang lồng ngực (đó là tình trạng viêm thâm nhiễm mô kẽ lan tỏa), xét nghiệm khí trong máu sẽ giúp xác định tình trạng suy hô hấp. Cấy virus trong chất tiết đường hô hấp và nhu mô phổi sẽ xác định tác nhân gây bệnh là virus hay không phải virus.
Biến chứng nguy hiểm trong viêm phổi do virus là suy hô hấp, nhiễm khuẩn huyết, nhất là hội chứng nguy cập hô hấp ở người lớn (ARDS), suy đa phủ tạng rồi đưa đến tử vong nhanh chóng.
Điều trị viêm phổi do virus còn hạn chế
Hiện nay, để điều trị viêm phổi do virus chủ yếu là điều trị triệu chứng: giảm sốt, long đàm, giảm ho… Một số loại virus có thuốc để điều trị (nhưng không hiệu quả hoàn toàn như đối với vi trùng): virus cúm dùng Oseltamivir (Tamiflu), virus hợp bào dùng Ribavirin, virus thủy đậu dùng Acyclovir, Cytomegalo virus dùng Ganciclovir. Đặc biệt, đối với virus cúm A, việc dùng thuốc kháng virus phải sớm trong 24 giờ - 48 giờ, nếu trễ hơn không có tác dụng nhiều. Dù dùng kháng sinh phòng ngừa trong viêm phổi do virus không chứng minh được hiệu quả ngăn chặn bội nhiễm vi trùng nhưng với bệnh cảm viêm phổi do virus nặng thì nên dùng kháng sinh phòng ngừa.
Để tránh tình trạng viêm phổi do virus có thể gây biến chứng nặng, những đối tượng có nguy cơ cao nên tiêm vắc xin phòng ngừa, nhát là đối với cúm.









