Vì sao ở Nam bộ không gọi con trưởng là con cả?
Theo gia phả của Nguyễn tộc (phủ thờ tại ấp Bình Quới, xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang) thì gia đình cụ Nguyễn Văn Núi gốc người Bình Định vào Nam năm nào không rõ, chỉ biết trước khi định cư ở Cù lao Giêng, họ đã có thời gian sinh sống trên một vùng đất ngang đó, bên kia bờ của một nhánh sông Tiền, nay có tên là xã Mỹ An.
Đó là nơi mà trước kia hãy còn là vùng hoang vu, ngoài một vài mái tranh nghèo lụp xụp tạm dựng trên giồng dọc theo bờ sông, với miếng ruộng nhỏ sau hè và chiếc xuồng con cột hờ dưới bến... Có lẽ gia sản của lưu dân ở đây chẳng có gì có thể kể thêm được!
Không như những người đi xây dựng vùng kinh tế mới ngày nay, hình ảnh phổ biến nhất của người lưu dân thời ấy là “vai mang chiếc nóp rách, tay xách cổ quai chèo”, có nghĩa chỉ hai bàn tay trắng!
Số phận của những người đi khai hoang thật bơ vơ, buồn tẻ! Cho nên, không ít người đã tự tạo cho mình một chỗ dựa tinh thần để hỗ trợ niềm tin trong cuộc sống. Cụ Núi dựng lên một ngôi chùa nhỏ, đơn sơ, lấy tên là “Chùa Giáo Hà”, ngày nay tọa lạc trên nền ngôi chùa xưa vừa nói.
Cũng như hầu hết những lưu dân khác, lúc gia đình cụ Núi đến cư ngụ thì vùng đất còn hoang dã. Vì vậy, ngoài công việc chính là khẩn hoang để trồng lúa, trồng màu, người ta còn phải đi săn bắn thêm thú rừng mới có thể xoay trở miếng cơm manh áo.
Cuộc sống của họ thường ngày phải đương đầu với sơn lam chướng khí, thú dữ, mà dẫy đầy là cọp, sấu kể cả trâu rừng. Một ngày nọ tai họa đến với gia đình nhà họ Nguyễn như một tin sét đánh: người con cả của cụ Núi, trong lúc đi săn ở Cù lao Giêng, đã bị cọp vồ mất xác.
Sau mấy ngày truy tìm khắp cùng rừng bụi, không thấy dấu vết người thân, cả nhà vô cùng thương tiếc! Hai cụ quyết chí tìm cách diệt cọp để làm vui lòng người con nơi chín suối, đồng thời cũng để trừ hậu hoạn (dân gian tin rằng trong gia đình, nếu có một người bị cọp ăn thịt như vậy thì lần lượt, cả nhà đều sẽ bị cọp vồ, gọi là “có noi” hay “có huông” nên hai cụ (song thân) quyết chí tìm cọp diệt thù.
Thế là căn chòi nhỏ được dời hẳn sang cù lao, đóng trên một giồng đất cao ở bìa rừng, ngay bên bờ sông. So với chốn cũ, cảnh vật ở đây hoang vu, lặng lẽ hơn, cây cối và thú rừng cũng nhiều hơn.
Hai cụ có cả thảy 5 con trai. Ngoài con cả đã bị cọp vồ, những người kia bản tính gan dạ không kém anh mình, nhất là người con kế, tên Thư, một thành niên sau này trở thành võ tướng, chết trận năm 1801, được truy tặng tước hầu (Thư Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thư ) nay hãy còn bằng sắc, mồ mả và đền thờ to ở xã Bình Phước Xuân (Cù lao Giêng).
Hôm ấy, ông Thư cùng mẹ là bà Lê Thị Nhạc bơi xuồng xuống Cái Nhum, miệt Hổ Cứ (nay là xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp), nơi có một số người đồng hương từ miền ngoài vào định cư để trao đổi lương thực, sau thăm nom, bàn chuyện sinh kế, và cũng do thấy ở đây có nhiều thổ sản cau, dừa,… nên thường lui tới mua đi bán lại kiếm tiền độ nhựt. Sau mấy chuyến, ông Thư phải lòng một cô thôn nữ ở đây. Thế là hai bên song thân cho tiến hành tác hợp. Vợ ông Thư là gái duy nhất trong gia đình, nên ông Thư phải ở lại bên vợ cho tiện. Mỗi lần ông Thư về thăm nhà, những người em của ông đều hết sức vui mừng, và ông thường lén bày nhiều cuộc vui đầy mạo hiểm, có lẽ hấp dẫn nhất là những lần tổ chức đi săn mèo rừng và cả... cọp!
Sau, cụ Núi biết được, cả giận, rầy đánh răn đe rất dữ, song do bản tính ham vui, lại can đảm, nên các ông vẫn tái phạm! Một hôm nọ, các anh em rủ nhau xuống Rạch Ngang (nay gọi Kinh Ngang) chận đăng chờ nước ròng bắt cá. Khi nước ròng sát, lòng rạch bày bùn, cá to kẹt lại trong đăng rất nhiều thì có một con cọp lội xuống phổng tay trên. Mấy anh em tức quá, không biết phải làm sao, đành mở đăng, chờ con nước tới. Chiều gần tối, đúng vào lúc lòng rạch bày bùn, cọp lại đến chực sẵn trên bờ, nhưng lần này lại không có cá. Cọp bỏ đi. Trước sự thắc mắc của những người em, ông Thư giải thích “do có nước miếng của cọp nhễu, nên cá sợ, tránh đi hết”. Thế là hôm sau các anh em ông Thư dời đăng xuống rạch Cái Dứa. Lần này ông Thư bảo người em út xuống rạch núp sẵn vào lùm cỏ, nếu thấy có cọp xuất hiện thì gây tiếng động như cá lớn mắc cạn, nhử cho nó lội xuống đặng các anh ra tay giết cọp!
Quả nhiên, sự việc diễn ra đúng như dự kiến, anh em ông Thư hè nhau đập chết tươi con cọp bị mắc lầy một cách khá dễ dàng. Tuy thầm khen ông Thư biết bày kế nhử cọp nhưng cụ Núi không thể không la rầy dằn mặt tính hiếu thắng, bồng bột của tuổi nhỏ, vì không khéo sẽ mất mạng như chơi...
Trở lại, đối với cụ Núi, việc trả thù cọp phải được tổ chức thật chu đáo. Phải giết cho được cọp chúa bằng một kế hoạch thật tinh khôn, do chính cụ chủ động, chỉ huy.
Một ngày nọ, sau khi đã theo dõi dấu chân hổ dữ, và đã chọn được địa điểm thuận lợi, cả nhà nhanh chóng bày thế trận. Cụ Núi giỏi võ nên nhận lãnh phần xuống lung bắt cá làm mồi nhử cọp. Bốn người con trai nấp bốn phía, lập thế tứ trụ hỗ tương. Riêng cụ bà có tài bắn cung bách phát bách trúng, nên nấp vào một bụi tre rừng gần đó để đảm nhận phần việc của mình.
Trời chiều không gió. Bốn bề yên lặng như tờ. Nhưng... kìa! Vài ngọn cờ lau đột nhiên từ từ ngã xuống một cách chậm chạp. Tiếng gãy giòn của mấy cây đế khô nghe rõ mồn một, càng lúc càng gần, rồi yên lặng. Không ai bảo ai, mọi người đều nín thở, tập trung, hồi hộp...
Xoạc! Cọp vừa phóng mình lao tới thì đã táp đúng một mũi tên tẩm thuốc độc của cụ bà! Cọp lồng lộn giãy giụa, làm rạp cả đám nghể lớn ở bờ lung. Sau hơn một khắc nặng nề trôi qua, không thấy có cọp khác đến tiếp cứu, cụ Núi ra hiệu lệnh, mọi người mới chịu rời khỏi vị trí, khiêng cọp về.
Buổi đầu khai hoang, đối với người lưu dân, chuyện “hùm tha sấu bắt” là một tai họa hết sức hãi hùng. Cho nên, qua sự kiện người con cả của cụ Núi bị cọp vồ mất xác, xuất phát từ cách hiểu “sợ có huông” của dân gian nên từ lúc ấy, ai nấy rất kiêng dè, không dám gọi con đầu lòng của mình là “cả” nữa. Và như một quy ước của xã hội, dân gian bắt đầu tính kể thứ của các con trong gia đình mình theo cách mới, trước hết là “thứ hai “, rồi “thứ ba”, “thứ tư” cho đến “thứ...út”. Cách gọi này được nhân dân Nam bộ lưu truyền cho đến ngày nay. Do vậy ở Nam bộ đồng bào không gọi con trưởng trong gia đình là con cả.
Truyền thuyết lý giải vấn đề được xác định trên các luận cứ khoa học sau đây:
- Một là có cơ sở, vì hợp lý hơn thuyết cho rằng do dân gian tránh gọi trùng (kiêng) thứ cả của hoàng tử Cảnh trong khi vẫn đặt gọi tên con mình trung với tên vua, chúa.
- Hai là có cứ liệu, vì đây là người thật việc thật, và chuyện kể xảy ra tại một địa phương cụ thể - một trong những nơi được người lưu dân đến khai phá, sinh tụ sớm nhất, và cho đến nay, không ít người già ở địa phương vẫn còn bảo lưu khá nhiều nét văn hóa đặc trưng trong sinh hoạt đời sống. Nhất là cho đến nay vẫn còn nghe những kỳ lão ở “miệt dưới” gọi người vùng này là “dân hai huyện” (Tân Bình và Phước Long) với ý ca ngợi nơi đã sớm hình thành một xã hội nề nếp, đáng ngưỡng mộ noi theo.
- Ba là có tính lịch sử, vì những nhân vật chính trong chuyện kể cho đến nay vẫn còn đó mồ mả, đền thờ và bằng sắc (tại ấp Bình Quới, xã Bình Phước Xuân hàng năm đều có diễn ra lễ cúng vào các ngày 25, 26 và 27-6 Âm lịch với nghi thức trọng thể như lễ kỳ yên).
Tưởng cũng cần nói thêm, cụ Ba Do (miêu duệ của Thư Ngọc Hầu) quả quyết rằng, hồi nhỏ, cụ ông và thân sinh của cụ thường dạy nói cù lao ấy là “Cù lao Riêng”; phải “đánh lưỡi”, làm biếng đánh lưỡi thì thành “cù lao Diên” y như nói đớt. Cụ nhắc lại lời giải thích của người xưa: “Riêng là riêng rẽ, hồi trước người ta sống ở đất liền, không bị cách trở bởi sông nước, chỉ có gia đình mình, vì cần diệt cọp để trả thù cho người anh cả, và cũng để tránh chuyện “có huông” sau này cho con cháu, nên gia đình mới dọn sang đây, lúc bấy giờ cù lao này chưa có tên, vì hầu như chưa có ai đến ở, coi như ra riêng, sống riêng vì vậy trước hết nó có tên là “Cù lao Riêng”.
- Bốn là có tính thời gian, vì chuyện xảy ra cách nay đã gần 250 năm, trước thời Nguyễn Ánh lẩn tránh Tây Sơn, tức ngay từ lúc miền Nam hãy còn hoang vu. Với chiều dài thời gian như thế hoàn toàn phù hợp với sự kiện, cùng là điều kiện lưu truyền và tỏa rộng cùng khắp của một phong tục đặc dị, chỉ có ở vùng đất phương Nam .
- Nhắc kể lại truyền thuyết với những luận cứ khoa học vừa nêu, thiết tưởng đã giúp chúng ta tìm hiểu được duyên cơ “ở Nam bộ không gọi người còn trưởng là con cả” vậy.








